Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

Trẻ 9-10 tuổi béo phì mắc bệnh chưa có thuốc chữa

Filled under:

Chất lượng đời sống nâng cao kéo theo hiện tượng béo phì gia tăng khiến không ít trẻ em mới 9-10 tuổi đã mắc căn bệnh mạn tính chưa có thuốc chữa. Để tránh tình trạng này trong tương lai, bố mẹ cần có hiểu biết về nguyên nhân cũng như biểu hiện ban đầu của các căn bệnh này.

Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Viện chất dinh dưỡng Quốc gia vào tháng 7/2019, có khoảng 42% học sinh tiểu học, 30% học sinh cấp 2 và 13,5% học sinh cấp 3 ở thành thị bị thừa cân, béo phì. Ở khu vực nông buôn bản, tỷ lệ này lần lượt là 18%, 11% và 6%.

Bệnh đái tháo đường trẻ hoá

Tại buổi hoạt động thường xuyên của câu lạc bộ bệnh nhân giải tháo đường nhân ngày Thế giới phòng chống bệnh đái tháo đường 14/11, TS Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa Nội tiết - giải tháo đường, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết tiểu tháo đường type 2 trước đây gặp chủ yếu ở lứa tuổi sau 40 nhưng nay gặp rất nhiều ở người bé, đặc biệt có nhiều trẻ em dưới 18 tuổi.


Dấu hiệu trẻ hóa bệnh đái tháo đường. Ảnh minh họa



Gần đây, bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận bệnh nhi 13 tuổi đến khám và điều trị áp xe gan do chữa bệnh tuyến dưới không thuyên hạn chế. Khi xét nghiệm đường huyết, chuyên gia chuyên khoa nhìn ra chỉ số cao vọt với nhận ra mắc tiểu tháo đường type 2 nhưng trước đó không hề hay biết.

Trường hợp khác là nam sinh 16 tuổi, ở Hà Nội cũng đang phải chữa trị tại khoa Nội tiết - tiểu tiện tháo đường do đường huyết quá cao. Gia đình cho biết từ nhỏ, bệnh nhi đã ăn tốt, ngủ tốt nên béo phì, hiện cân nặng lên đến 88 kg.

Bệnh nhân đã được dự đoán mắc giải tháo đường type 2. Trước đó, em đã chữa bệnh theo đơn, gia đình cũng chú ý chuẩn bị cơm cho con đến trường. Dù vậy, sau khi chơi thể thao, cháu đói quá không chịu được cần lại kế tiếp mua đồ ăn cần cân nghiêm trọng tăng dần đều, khó tự chủ đường huyết.

Trước đó, cơ sở y tế Nhi Trung ương (Hà Nội) chữa trị đái đường type 2 cho trẻ gái Nguyễn Thị Thu H., mới 13 tuổi. Từ nhỏ, trẻ gái đã thích uống nước ngọt, uống đều đặn mỗi ngày cần lớn lên, cân nghiêm trọng tăng nhanh ở mức béo phì.


Chỉ số glucose trong máu chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường


Khi tới bệnh viện khám, chỉ số glucose trong máu của bệnh nhi lên đến 11 mmol/lít, trong khi ở mức 6,5 đã được chẩn đoán mắc tiểu đường.

tới nay, bệnh nhi nhỏ tuổi nhất được nhận thấy mắc đái đường type 2 là một trẻ trai mới 9 tuổi, ở Hà Nội. Cháu bé có kèm theo tình trạng thừa cân, béo phì, chỉ số đường huyết trong máu lên đến gần 15 mmol/lít.

Theo TS Bảy, nguyên nhân khiến cho nhiều bệnh nhi mắc tiểu tháo đường là tỷ lệ béo phì ngày càng tăng, kết hợp với một số yếu tố di truyền, ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn, lối sống lười chuyển động, dành quá nhiều giai đoạn xem tivi, điện thoại, máy tính...

Hiện, Việt Nam được xếp nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ tăng sinh đối tượng mắc bệnh đái tháo đường cao nhất thế giới, với trên 3,35 triệu bệnh nhân.

Tuy thế, đây chỉ là các con số bề nổi, theo ước tính vẫn còn 63% bệnh nhân tiểu tiện đường chưa được nhận ra trong cộng đồng. Thậm chí, ngay các bệnh nhân được xác định bệnh, chỉ có 30% chấp hành phương án chữa bệnh, gây ra gánh nghiêm trọng rất lớn cho gia đình, xã hội.

Tiến triển nghiêm trọng và nhiều biến chứng


Biến chứng bệnh đái tháo đường


TS Bảy nhấn mạnh trẻ hoá giải tháo đường là vấn đề đáng bất an, việc trị bệnh cho nhóm người bệnh này gặp nhiều khó khăn do các thuốc uống hạ đường huyết thường ít được nghiên cứu ở trẻ nhỏ và ý thức thực hiện điều trị kém hơn người lớn.

Trong khi đó, việc chữa trị bệnh cho bé giải tháo đường type 2 không hề đơn giản, đây là bệnh mạn tính nên chữa trị suốt đời. Người bệnh ngoài áp dụng thuốc sẽ buộc phải dùng chế độ ăn uống kiêng khem cực kỳ nghiêm.

Với trẻ em, ăn kiêng quá mức sẽ hậu quả đến sự phát triển của bé. Não bé cần lượng đường Nhất quyết, nên khi hạ đường huyết sẽ làm đe dọa trực tiếp tới não.

Những nghiên cứu mới đây cũng cho thấy tiểu tháo đường ở người bé thường các di chứng sẽ tiến triển nghiêm trọng hơn, mức độ đem đến biến tướng sớm hơn và tỷ lệ có tai biến nhiều hơn so người lớn tuổi, gây vất vả trong điều trị.

Để nhìn ra sớm trẻ mắc giải tháo đường, TS Bảy khuyến cáo cha mẹ cần quan tâm đến con, khi thấy trẻ thường ngày khát nước và đi đái nhiều là một trong những triệu chứng tiêu biểu của bệnh giải tháo đường ở trẻ nhỏ.

Nguồn gốc là đường bị tích tụ nhiều trong máu khiến cho thận phải làm việc liên tục ở cường độ cao để có khả năng lọc và hấp thụ hết lượng đường bị dư thừa.

“Với các bé béo phì, nếu vùng sau gáy hoặc ở nách có đám da đen sần cũng là một trong các biểu hiện cảnh nên theo dõi đái tháo đường”, TS Bảy nói thêm.


Vận động và bổ sung chất dinh dưỡng giúp phòng đái tháo đường hiệu quả

Những bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn chất dinh dưỡng và vận động là hai bí quyết cực kỳ quan trọng để phòng hạn chế tiểu tiện tháo đường. Liên đoàn tiểu tiện tháo đường thế giới cho biết 50% đối tượng mắc bệnh tiểu tháo đường và 90% bệnh nhân giải tháo đường type 2 là có khả năng phòng ngừa được bệnh bằng thay đổi lối sống, tăng thêm di chuyển, tự chủ cân nghiêm trọng và chế độ ăn.

Để phòng giảm thiểu đái tháo đường ở bé, bố mẹ đừng bắt bé ăn nhiều, hãy bỏ tâm lý muốn con thật béo, chú ý tự chủ cân nặng và chế độ ăn của bé và đừng để bé ngồi một chỗ trong thời gan dài.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh15:16

Virus hợp bào hô hấp bùng phát ở trẻ nhỏ mùa thu đông

Filled under:

Theo chia sẻ của ThS.BS Nguyễn Danh Đức, bệnh viện Đại học Y Hà Nội, vi khuẩn RSV là một trong những nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với năng lực lây truyền rất mạnh. Có đến 90% trẻ em nhiễm loại siêu vi này trong 2 năm đầu đời.



Nhiễm virus hợp bào hô hấp tạo nên các triệu chứng tương tự như cảm cúm thông thường ở phần lớn trẻ em, nhưng có một tỷ lệ nhỏ bé bị nhiễm RSV tiến triển nghiêm trọng thành nhiễm trùng tiểu phế quản, nhiễm trùng phế quản hoặc nhiễm trùng phổi rất tác hại cho bé. Bệnh này có khả năng gặp quanh năm nhưng thường là vào mùa mưa ở những tỉnh phía Nam hay mùa lạnh ở những tỉnh phía Bắc của nước ta. Hiện vẫn chưa có vaccine bảo vệ bé khỏi loại vi trùng này.

Xem thêm: Dấu hiệu nhận biết trẻ bị viêm hô hấp trên

Nguồn lây nhiễm và đối tượng nguy cơ nhiễm bệnh

- Nguồn bệnh là người nhiễm RSV. Bệnh có thể lây từ thời gian ủ bệnh tới thời điểm có triệu chứng lâm sàng. Bên cạnh đó, virus có thể sống nhiều giờ trên tay, các bề mặt môi trường và đồ chơi cần con người có thể nhiễm bệnh nếu tiếp xúc trực tiếp với những bề mặt mang mầm bệnh này.

- RSV lây lan dễ dàng qua đường hô hấp khi đối tượng mắc trĩ ho, hắt khá hoặc tiếp xúc trực tiếp với người mắc trĩ như hôn bé hoặc lây truyền gián tiếp do tiếp xúc với những bề mặt bị ô nhiễm, chất tiết của người mắc trĩ.

- Đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh: trẻ sinh non; trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi (gặp nhiều ở trẻ từ 2 - 3 tháng tuổi); bé dưới 2 tuổi mắc bệnh tim, phổi bẩm sinh; trẻ có hệ miễn dịch suy yếu (như suy chất bổ, hóa trị…); Người già yếu; Người bị bệnh tim, phổi mạn tính; những người bị suy tránh miễn dịch (nhiễm HIV, hóa trị, áp dụng những thuốc gây suy giảm miễn dịch…).


Vi khuẩn RSV là thủ phạm gây bệnh


Dấu hiệu lâm sàng của bệnh

- Thời điểm ủ bệnh: Từ khi nhiễm vi khuẩn tới khi có biểu hiện bệnh trung bình từ 2 - 8 ngày.

- RSV thường gây bệnh ở đường hô hấp trên (mũi, họng) với những biểu hiện thường nhẹ và giống như cảm lạnh thông thường, bao gồm: Sốt nhẹ, ho, hắt hơi, ngạt chảy nước mũi. Khoảng 25 - 40% trẻ mắc bệnh có dấu hiệu viêm đư­ờng hô hấp d­ưới nh­ư viêm nhiễm đái phế quản, nhiễm khuẩn phế quản, viêm phổi.

- Bệnh diễn biến đặc trưng nặng ở trẻ có bệnh tim bẩm sinh, bệnh đư­ờng hô hấp bẩm sinh hoặc suy tránh miễn dịch.

Các triệu chứng nặng của bệnh: Sốt cao liên tục; khó thở (thở nhanh), có thể có mặt tím tái ở mô, đầu chi; thở khò khè, có tiếng thở rít, có cơn dừng thở; ho nhiều với đờm vàng, xanh, đục; trẻ quấy khóc nhiều hoặc mệt mỏi, lờ đờ, bỏ bú; có biểu hiện mất nước như khóc không ra nước mắt, không đi đái trong vòng 6 giờ, da khô nhăn nheo.

Ở ngư­ời lớn chủ yếu là triệu chứng cảm lạnh như­ sổ mũi, đau rát họng, ho, sốt nhẹ, stress, đau đầu. Có khả năng gặp viêm nhiễm phổi ở ngư­ời già, người có bệnh phổi mạn tính.

>>Xem thêm: http://manngua.com/2019/11/20/tre-bi-me-day-cap-me-cham-soc-tre-nhu-the-nao/

Phòng bệnh

Hiện chưa có vaccine phòng bệnh do RSV. Bởi thế, để giúp phòng tránh hữu hiệu lan nhiễm RSV cho bé cần thực hiện các liệu trình sau:

- Rửa tay sạch sẽ mỗi khi tiếp xúc với bé, đặc trưng là khi ra đi ngoài, đến những khu vực đông đúc, nơi vui chơi có nhiều người, sau khi tiếp xúc với người có biểu hiện tương tự như cảm cúm.

- Nếu cha mẹ hay người thân bị bệnh thì Nhất định không được đến gần, bế bé hay ôm hôn trẻ.

- Làm sạch sẽ các bề mặt, dụng cụ có khả năng bị ô nhiễm mầm bệnh.

- Không để người lạ mặt tiếp xúc với trẻ, đặc biệt không cho hôn bé.

- Hạn chế đưa bé tới các nơi đông người, nóng bức, hao hụt khí.

- Khi ra đi đường cần giữ ấm và bảo vệ đường hô hấp trên cho bé. Có thể áp dụng nước muối sinh lý 0,9% nhỏ vào mắt, mũi cho trẻ sau khi đi chơi về.

- Quan sát, chú ý và nhắc nhở bé không mút tay hoặc ngậm đồ chơi.

- Giúp bé tăng cường sức đề kháng: Cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để bé bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá.

- Các trẻ mắc các bệnh tim, phổi bẩm sinh nếu có các triệu chứng bệnh như: sốt, ho, khó thở nên đưa ngay bé đến trung tâm y tế để được điều trị đúng.

- Cho bé đi kiểm tra thể lực thường xuyên và tiêm vaccine đầy đủ, đúng kỳ hạn.

>>Có thể bạn quan tâm: 

Posted By Hà Oanh14:56

Triệu chứng khác lạ ở bé mẹ nên lưu ý

Filled under:

Cha mẹ thường không chú ý tới những dấu hiệu bị bệnh ở trẻ. Nguồn gốc là do sự thiếu hiểu biết về những loại bệnh cũng như tình trạng bệnh của con mình. Để con mình gia tăng khỏe mạnh, bố mẹ đừng bỏ qua những biểu hiện bệnh thường gặp sau đây của trẻ nhỏ nhé.

Các thầy thuốc chuyên khoa Đỗ Thị Xuân và Đặng Hồng Khánh trung tâm y tế Nhi Trung Ương cho biết: Tại cơ sở y tế Nhi Trung ương, đặc biệt là ở các khoa Khám bệnh, khoa Cấp cứu; nhân viên y tế thường gặp những trường hợp bố mẹ không nhận biết được các biểu hiện bệnh nghiêm trọng ở trẻ để đưa bé đi khám sớm. Điều này gây ra các đe dọa tiêu cực đến sức đề kháng của trẻ.

Ngược lại cũng có nhiều bố mẹ vì lo âu quá mức về hiện tượng bệnh của con mà đòi hỏi phải cho con khám cấp cứu, khám ngay, mặc dù được nhân viên y tế đánh giá tình trạng bệnh của trẻ chưa cần phải khám cấp cứu giúp và có khả năng chờ đợi được. Do vậy bố mẹ cần nắm những biểu hiện bệnh lý để đưa trẻ tới thăm khám nhanh chóng.


Dấu diệu phản ánh tình trạng bệnh nặng ở trẻ

Những bác sĩ chuyên khoa cho biết bố mẹ cần chú ý đến các biểu hiện nguy cấp này để đưa trẻ di khám ngay:

Về đường hô hấp:

Trẻ khó thở : thở nhanh hơn so với mức bình thường kèm theo các triệu chứng rút lõm lồng ngực, hõm ức, cánh mũi phập phồng… phụ huynh có thể nghe thấy các tiếng thở rít rõ hay tiếng bé thở khò khè, thở rên ở trẻ em dưới 2 tháng;

Trẻ có biểu hiện tím môi, đầu ngón chân, ngón tay; Màu sắc da thay đổi: xanh, tái. Nghiêm trọng hơn bé có biểu hiện rối loạn nhịp thở như có cơn ngừng thở hoặc dừng thở (quan sát lồng ngực, bụng không phập phồng theo nhịp thở).

Chi tiết: Những điều cần biết khi trẻ sơ sinh bị suy hô hấp

Về tuần hoàn:

Trông trẻ xanh sao stress, da tái nhợt do thiếu máu, hoặc mất máu nghiêm trọng do chấn thương (chảy máu ra ngoài thân thể hoặc chảy máu bên trong cơ thể); bé chảy máu kéo dài, không cầm được.

bé mất nước nghiêm trọng (do trớ nhiều, ỉa chảy cấp…) dấu hiệu bằng những biểu hiện uống nước háo hức, kích thích vật vã hoặc li bì, hôn mê. Nghiêm trọng hơn, bé tím tái, dừng tim (áp tai vào vùng ngực không nghe thấy tiếng tim đập).

Về thần kinh:

Bé co giật, bé li bì, hôn mê: gọi hỏi không khóc, không giải đáp hoặc không co tay, chân lại khi bị cấu véo; khó đánh thức trẻ dậy. Bé rất đau, tinh thần hoảng loạn, kích thích.

Những bệnh cấp cứu vãn ngoại khoa: 

Trẻ có dấu hiệu của một số bệnh ngoại khoa như lồng ruột, xoắn ruột, tắc tá tràng, không hậu môn…với các triệu chứng như : nôn, đau quặn bụng, ỉa máu , kích thích nhiều…

Những chấn thương nặng: 

Trẻ rơi từ độ cao > 2m, tai họa xe cộ mà tốc độ lớn hơn 60km/h, tai vạ do hỏa hoạn, vết thương xuyên thấu…

Mặt khác trẻ có các biểu hiện khác như:

+ Hạ nhiệt độ (≤ 35.5 độ C) hoặc sốt cao ≥40 độ C.

+ Các hiện tượng ngộ độc cấp: ngộ độc rượu, thuốc trừ sâu, thuốc gây nghiện….

Posted By Hà Oanh14:41

Sốt phát ban – Căn bệnh thường gặp dễ bị biến chứng

Filled under:

Sốt phát ban ở trẻ tuy là căn bệnh thường gặp nhưng nếu không được chăm sóc đúng cách có khả năng gây cần hầu hết những tai biến nguy hại như viêm nhiễm phổi, nhiễm trùng màng não hay là viêm tai giữa.

Sốt phát ban là bệnh gì?


Sốt phát ban khiến da trẻ nổi các nốt đỏ li ti



Sốt phát ban là căn bệnh góp mặt ở mọi mùa trong năm. Là bệnh lây lan và có khả năng lây truyền rất nhanh do tiếp xúc với dịch tiết ra từ nước mũi hoặc ở cổ họng người nhiễm bệnh trước khi hiện diện các dấu hiệu.

Sốt phát ban chủ yếu do một số loại siêu vi làm cho như vi trùng sởi, virus rubella, vi trùng đường ruột và đặc biệt là siêu vi đường hô hấp. Ở độ tuổi từ 6 đến 36 tháng tuổi, hệ miễn dịch của trẻ còn rất non và yếu ớt nên dễ bị vi khuẩn tấn công. Bệnh có thể quay lại nhiều lần chứ không chỉ bị một lần duy nhất.

Triệu chứng và dấu hiệu sốt phát ban ở bé

Thời kì ủ bệnh sốt phát ban thường là 7 ngày. Sau đó sẽ có mặt các triệu chứng và triệu chứng đặc biệt như:

Trước khi phát ban: bé sẽ có những biểu hiện như là quấy khóc và sốt. Với từng nguyên nhân gây sốt phát ban thì lại có những triệu chứng sốt khác nhau. Sốt cao đột ngột là triệu chứng phổ biến nhất mà mẹ có khả năng nhận biết bệnh ở trẻ, có khả năng lên tới 39,5 độ C. Kèm theo đó là bé có thể bị nhiễm trùng họng, sổ mũi, ho, nổi hạch. Những dấu hiệu này thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày.

Trong quá trình phát ban: Sau khi trẻ hạ sốt thì nốt ban bắt đầu nổi lên. Các nốt này có màu đỏ nhỏ hoặc bị sưng lên, có khả năng có màu trắng bao bọc. Đi kèm theo đó là những triệu chứng như: tiêu chảy hoặc chất thải tế nhị hơi lỏng. Nốt ban thường lan từ trên xuống dưới, từ mặt xuống cổ, ngực, bụng và các chi. Từ đó hình thành các bọc nước màu đỏ. Tuy vậy nếu được chữa trị đúng cách nốt ban sẽ mất dần sau khoảng 5 ngày

Sau phát ban, bệnh phục hồi: Nếu được chăm sóc tốt thì bệnh sẽ không để lại các vết thâm trên thân thể của bé. Trong trường hợp bị viêm nhiễm có thể để lại các vết lở loét và tạo ra nên sẹo.


Nếu không chữa trị kịp thời vết ban sẽ để lại sẹo


Những dấu hiệu và biểu hiện khác có thể xuất hiện:

– Đau đầu, khó chịu
– Ói mửa, buồn trớ
– Chán ăn
– Sưng mí mắt
– Dễ mất nước
– Ở trẻ sơ sinh thì có thể bỏ bú

Cách xử lý “hiệu quả” khi bé bị sốt phát ban

Khi trẻ yêu có mặt các triệu chứng sốt phát ban, bố mẹ nên chăm sóc đúng cách và xử lý hữu hiệu để trẻ kịp thời khỏi bệnh.

– Khi bé sốt trên 38,5 độ thì mẹ có khả năng cho bé dùng thuốc hạ sốt theo đúng liều lượng quy định. Với trường hợp sốt dưới 38,5 độ thì không cần uống thuốc hạ sốt và để trẻ tự khỏi.

– Mẹ cần pha cho trẻ nước quất mật ong hay gừng hấp đường phèn để làm dịu cổ họng cho bé nếu bị đau họng. &Ndash; – Vệ sinh mũi và họng sạch bằng nước muối cho bé.

– Chia nhỏ thức ăn thành nhiều bữa để bé dễ hấp thụ và hạn chế trường hợp chán ăn vì một lúc ăn quá nhiều.

– Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho bé. Cho bé ăn các thức ăn mềm, lỏng và dễ tiêu hóa. Bổ sung vitamin A và C nhiều hơn cho trẻ.


Nên đưa trẻ đi khám khi có dấu hiệu phát bệnh nghiêm trọng

Cho trẻ uống đủ nước hàng ngày. Có thể là nước ép trái cây, rất tốt cho thể lực, tăng thể lực. Nếu trong gia đình có con nhỏ thì bố mẹ nên lưu ý công cụ những kiến thức cơ bản về bệnh để có khả năng bảo vệ cho con yêu luôn được khỏe mạnh.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh14:05

Tuần đầu mang bầu mẹ nên chú ý các vấn đề gì ?

Filled under:

Tuần đầu có thai là thời gian mẹ nên chú ý cẩn thận vì chỉ nên một chút sơ sẩy thì thai nhi có thể gặp nguy hiểm. Ngoài chế độ dinh dưỡng để đảm bảo sự an toàn cho bé.

Tuần đầu của thai kỳ là khi nào?

Tuổi thai tính từ ngày có kinh ban đầu của chu kỳ kinh cuối. Bình quân mỗi thai kỳ sẽ kéo dài 40 tuần. Tức là 280 ngày tính từ ngày đầu tiên của kì kinh cuối cùng. Như vậy, ngay thời gian rụng trứng, bạn đã được coi như đã có thai 2 tuần.

Vì vậy, theo ngôn ngữ y khoa, tuần sơ khai của thai kỳ nghĩa là bạn đang trong ngày "đèn đỏ" và chưa hề có mang. Em trẻ của bạn chỉ thực sự thành hình ở tuần thứ 2 hoặc thứ 3 của thai kỳ. Điều này tùy thuộc vào độ dài của chu kỳ nguyệt san.

Bởi thế, “mang thai tuần đầu” được tính từ ngày bạn thụ thai (quan hệ không an toàn), thì thực tế tuổi thai đã được tính là 3 tuần. Và thời kì 3 tháng đầu thai kỳ là cực kỳ nhạy cảm và nếu không chú ý có thể mang đến sẩy thai.

>>> Dấu hiệu mang thai tuần đầu tiên

Có thai tuần đầu nên lưu ý gì?

Hạn chế căng thẳng cao độ

Công việc ngày nay rất nhiều căng thẳng và áp lực. Có nhiều tình trạng người mẹ bị sẩy thai, dọa sẩy thai khi em bé trong bụng 1 tuần tuổi mà không nhận ra do Nguyên nhân này cũng như sửa đổi nội tiết tố tạo ra. Bởi vậy, hãy nghỉ ngơi nhiều hơn thường ngày để sức khoẻ được bảo đảm mẹ nhé.

Uống thuốc khi có bầu

Có thai tuần đầu cần lưu ý không cần áp dụng thuốc cảm, kháng sinh khi không được thầy thuốc cho phép. Bởi vì những thành phần của thuốc có khả năng tác động không nhỏ đến sự gia tăng của "giọt máu". Tuyệt đối không tự kê đơn cho bản thân. Khi uống thuốc, bạn bắt buộc thực hiện Tốt nhất chỉ dẫn của chuyên gia về liều lượng và giai đoạn áp dụng.

Nói không với rượu và những chất kích thích

Rượi, bia, thuốc lá hay những chất kích thích khác đều đe dọa tới nhau thai và làm xáo trộn nhịp tim, não bộ của trẻ.

Nhất là đối với các mẹ thai phụ 1 tuần thì những chất trên đều là các nguồn gốc dẫn đến sẩy thai sớm.

Tạo thói quen ăn uống khoa học

Bắt đầu từ thời kỳ này, mẹ buộc phải lưu ý và hình thành thói quen dưỡng chất khoa học. Ẳn uống điều độ, đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho thân thể và giúp em bé trong bụng gia tăng hiệu quả hơn.

>>Xem thêm: 

Các nhóm thực phẩm nên ăn bao gồm:
  • Tinh bột: Ngũ cốc, gạo, bánh mì,…
  • Cung cấp đủ protein, vitamin và khoáng chất
  • Nhiều rau xanh và trái cây
  • Chất béo: Dầu thực vật, mỡ động vật, bơ,...
  • Bổ sung sắt, canxi, axit folic, vitamin A, D...
  • Đồng thời, mẹ cũng cần uống đủ nước 2 – 3l nước thường ngày.
Giảm thiểu tối đa những thực phẩm dễ gây ngộ độc hay co thắt dạ con

Khổ qua, ngải cứu, rau răm,…nếu không được chế biến thích hợp thì có thể dẫn đến co thắt tử cung, sẩy thai sớm.

Các loại hải sản có hàm lượng thuỷ ngân cao như cá thu, cá ngừ,…có thể hậu quả nghiêm trọng đến sự tăng sinh não bộ của "giọt máu".

Thực phẩm chưa được tiệt trùng, thịt muối, pho mát mềm,…dễ gây ngộ độc thực phẩm.

Quan hệ khi mang thai

Lưu ý không cần "yêu" mạnh, hoặc "yêu" liên tục nhiều lần khi bắt đầu mang thai. Vì có khả năng gây chảy máu "vùng kín" và khiến người mẹ mất sức, stress. Đối với những mẹ đã có tiền sử dọa sẩy thai, sẩy thai, sinh non trước đó nên hạn chế quan hệ trong thời kì đầu mang thai.

Đi đứng cẩn thận, giảm thiểu va chạm mạnh

Thời điểm này, phôi thai đang trong quá trình tìm chỗ để bám vào tử cung. Bởi vậy, bất kỳ đụng phải mạnh ở vùng bụng dưới rất dễ gây sẩy thai.


Tập thể dục nhẹ nhàng

Tập thể dục rất tốt cho mẹ bầu vì đảm bảo sức khỏe và sức khoẻ trong quá trình vượt cạn. Ngoài ra, tập còn giúp mẹ có tâm trạng tha hồ hơn, tránh cảm giác khó chịu trong thai kỳ. Nhờ đó, sự tăng sinh của bào thai cũng sẽ hiệu quả hơn. Mẹ bầu có thể tập yoga, đi bộ, chạy bộ, bơi lội,…

Môi trường xung quanh trong lành

Không nên tiếp xúc với môi trường nhiều khói bụi và khói thuốc lá vì các chất có hại dễ gây dị tật ở em bé trong bụng, nhất là vào giai đoạn đầu.

Mặc dù vài tuần nữa đứa bé trong bụng mới bắt đầu hình thành nhưng mẹ đã được xem chính thức là mẹ bầu. Mang bầu tuần đầu cần chú ý hơi nhiều điều, nhưng mọi là vì mẹ và bé. Chăm sóc và bảo vệ bản thân mình thật tốt để đứa trẻ trong bụng có thể phát triển khỏe mạnh về sau.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh11:53

Giữ an toàn cho trẻ trong độ tuổi biết bò, lật

Filled under:

Trẻ nhỏ thường rất hiếu động nhất là trong độ tuổi biết bò, lật. Phụ huynh thường không thể quan sát bé 24/24, Do đó bé có thể gặp nguy hiểm nếu như bố mẹ sơ ý khi con chơi một mình. Hãy tham khảo bài viết dưới đây để biết cách giữ an toàn cho con nhé.


Độ tuổi bé lật, bò rất dễ xảy ra những nguy hiểm bất ngờ

Cẩn thận từ chính bản thân bạn

  • Bạn cần có một số thay đổi để giữ an toàn cho bé. Bé chỉ hiểu được tầm quan trọng của an toàn khi lớn hơn nên bạn sẽ là người thiết lập các nền tảng về an toàn cho bé trong các năm đầu đời.
  • Không bao giờ để trẻ ở nhà một mình hoặc với một người anh em của bé hoặc với những loại thú nuôi.
  • Buổi tối là lúc thường gặp tai họa bởi bạn đang mệt mỏi và bận rộn. Hãy ưu tiên lo cho sự an toàn của trẻ.
  • Bạn cần biết cách sơ cứu vãn và có bộ dụng cụ sơ cứu vãn ở nhà. Rất có thể bạn không cần áp dụng tới các thứ này nhưng có sẵn vẫn hiệu quả hơn.
  • Ăn mặc hợp lý cho trẻ. Với một em bé đang tuổi vận động tốt nhất không cần dùng khăn choàng cổ hoặc bất kỳ vật dụng nào có khả năng gây nguy hiểm.

Chú ý giữ an toàn cho trẻ khi con đã biết bò, lật

Bạn có khả năng làm nhiều thứ để nhà bạn an toàn khi bé bắt đầu biết bò hoặc tập đi. Nhưng tốt nhất để mở màn là hãy nhìn bên cạnh theo cách của trẻ. Hãy cúi xuống thấp cỡ trẻ và nhìn quanh sàn và tường ở mỗi phòng. Sau đó nhìn lên cao khoảng một mét xem có gì nguy hiểm để thay đổi cho an toàn.

Một điều quan trọng khác trong việc giữ an toàn cho trẻ đang tuổi tập đi là dạy bé hiểu giá trị của từ "Không". Bạn có thể tập cho trẻ quen với việc không nên sờ vào một số đồ vật. Lúc đầu bé còn quá nhỏ để hiểu tại sao không thể đụng vào hoặc chơi với các gì bé tiếp xúc. Đó là điều bé cần bắt đầu học từ sớm.

Giữ an toàn trong nhà

Nguy hiểm từ nhà bếp

Dưới 9 tuổi bé không được làm bất kỳ những điều sau đây:
  • Vào bếp không có sự giám sát trực tiếp của bạn (bạn cần lắp đặt cổng an toàn trong các năm đầu).
  • Đến gần lò nướng. Bạn có khả năng làm mẫu cho bé thấy sự nguy hiểm bằng cách kém chất lượng vờ sờ vào lò và la lớn: "Á! Nóng quá!" cho bé biết lò là vật nguy hiểm.
  • Tới gần mặt bếp hoặc sờ vào bất cứ thứ gì trên đó.
  • Cho bất cứ thứ gì vào miệng mà bạn chưa cho phép.
Cẩn thận với những trang bị trong phòng bếp
  • Luôn để tay nắm nồi và chảo quay vô trong và để xa cửa bếp lò.
  • Lắp chốt ngăn trẻ em trên các ngăn kéo và tủ.
  • Đóng chặt những thùng. Bé con thường rất thích mấy chiếc thùng rác.
  • Không bao giờ cho trẻ ngồi trên mặt quầy bếp hoặc mặt ghế trong bếp.
  • Để các chất lỏng nóng xa tầm tay bé, hoặc chỉ làm các thứ này lúc bé ngủ, khi trẻ không chơi ở gần đó.
  • Đặt những túi nhựa lên cao xa tầm tay bé.
  • Không bao giờ đặt ghế đẩu gần nơi trẻ có khả năng trèo lên.
  • Đặt toàn bộ các loại dây, cáp điện xa tầm tay trẻ.
  • Nếu bạn làm đổ thứ gì trên sàn nhà, hãy lau ngay để tránh trượt ngã.
  • Cất các chất tẩy rửa, đánh bóng trong một cái tủ cao và luôn cài chặt chốt cửa.
Phòng tắm
  • Không bao giờ để bé một mình trong bồn tắm cho tới khi bé năm tuổi.
  • Cài đặt nhiệt độ nước trong nhà bằng hoặc thấp hơn 48 độ C. Nhớ tắt vòi nước nóng trước mới đến vòi nước lạnh để bé không bị bỏng.
  • Đặt một lớp bảo vệ trên vòi tắm để bé không bị thương nếu vấp ngã trong bồn hoặc chạm vào khi vòi còn nóng.
  • Đặt thảm chống trượt dưới đáy bồn để trẻ không bị ngã và đập đầu.
  • Tháo những công cụ điện khỏi phòng tắm khi bé ở đó hoặc để những thứ ấy trong một cái tủ trên cao ngoài tầm tay bé.
Cửa ra vào và cửa sổ
  • Khóa cửa sổ - nhất là các cửa sổ tầng trên.
  • Sử dụng loại chốt cửa ngăn những cửa sổ mở rộng hơn 10 cm, đặc trưng là trong các khu căn hộ và cửa sổ tầng hai.
  • Không để ghế hoặc đồ vật gần cửa sổ để trẻ leo lên.
  • Để cửa không sập lại làm kẹt tay trẻ, hãy đặt một chiếc khăn trên đầu cửa để giữ cửa khép hờ.
  • Hãy dùng vật chặn cửa để cửa không sập lại đột ngột.
  • Dạy bé không để ngón tay gần bản lề cửa.

Một số nguyên tắc giữ an toàn cho trẻ

  • Các loại dây khó nhìn thấy và rèm cửa bắt buộc được treo lên xa tầm tay trẻ.
  • Đặt những đồ vật dễ vỡ trên cao và xa tầm tay bé.
  • Dùng đồ đạc che những ổ điện lại, hoặc áp dụng đồ che ổ cắm.
  • Để những những loại nước tẩy rửa, dung dịch dùng cho máy rửa chén lên cao trong tủ chỉ người lớn mới mở được.
  • Đặt những loại thuốc, bình xịt, sản phẩm phục vụ cho tóc, dao cạo và hoá chất trong một loại tủ trẻ em không mở được.
  • Sử dụng thảm chống trượt ở mặt sau để bé không trượt ngã.
  • Những trang bị điện tử luôn tiềm ẩn nguy hiểm với trẻ nhỏ. Ngay cả khi ti-vi plasma được bắt vít chặt vào tường, nó vẫn có thể rơi vào một đứa bé.
  • Không nên sử dụng khăn trải bàn hoặc các gì lòng thòng trên đồ đạc cho tới khi bé đủ lớn để biết không nên sờ vào các thứ đó.
  • Nếu bàn hoặc ghế có cạnh sắc nhọn, bạn có khả năng bọc nệm lại. Đóng chặt kệ sách và những loại tủ vào tường vì bé có khả năng trèo lên làm đổ.

Nếu con bạn đang trong độ tuổi vận động hay bắt đầu tập lật, bò thì hãy chú ý hơn để đảm bảo an toàn cho trẻ nhé!

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh11:34

Ngỡ ngàng bệnh sởi gây mất trí nhớ

Filled under:

Những nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, bệnh sởi sau khi chữa khỏi, trẻ nhỏ có nguy cơ mất trí nhớ hoặc mắc các bệnh lan nhiễm khác do đe dọa của vi khuẩn đối với hệ miễn dịch.

Bệnh sởi gây mất trí nhớ ?

Các nghiên cứu được thực hiện trên những đứa bé chưa được tiêm chủng từ một cộng đồng ở Hà Lan. Các nhà kỹ thuật đã lấy mẫu máu từ những đứa bé khỏe mạnh chưa được tiêm chủng từ 4 đến 17 tuổi cũng như từ 77 bé bị nhiễm bệnh trong đợt bùng phát bệnh sởi năm 2013. Dựa trên hậu quả nghiên cứu giúp, 2 bài báo đã được xuất bản. Công trình của nhóm, do Stephen J. Elledge thuộc Đại học Harvard dẫn đầu, được đăng trên tạp chí Science, một bài báo của nhóm do Velislava Petrova từ Viện Wellcome Trust Sanger và Đại học Cambridge, Anh, phụ trách, được xuất bản trên tạp chí Science Immunology.
Vi khuẩn gây bệnh sởi


>>Xem thêm: Bệnh sởi ở trẻ sơ sinh

Hóa ra, bệnh sởi phá hủy từ 11 tới 73% kháng thể bảo đảm trình độ miễn dịch, nghĩa là căn bệnh sởi sẽ xóa đi trí nhớ của hệ miễn dịch về những bệnh đã mắc và vắc xin từng tiêm trước đó, làm mất trình độ bảo vệ thân thể. Những nhà kỹ thuật gọi hiện tượng này là "mất trí nhớ miễn dịch". Theo nhà nghiên cứu Velislava Petrova, trẻ em bị nhiễm sởi có khả năng cần tiêm lại vắc xin chống lại các bệnh khác.

Những nhà nghiên cứu đã kiểm tra xem vắc xin MMR, thường được sử dụng để phòng tránh bệnh sởi, có tác hại như vậy đối với hệ thống miễn dịch hay không. MMR là một loại vắc xin kết hợp cho bệnh sởi, quai bị và rubella và bao gồm các virus sống gây các bệnh này nhưng được làm suy yếu. Có một hậu quả của vắc xin MMRV cung cấp bảo vệ chống bệnh thủy đậu. Những nhà khoa học đã nhận ra ra rằng một mình vắc xin MMR không ức chế miễn dịch, nghĩa là các người được tiêm vắc xin sẽ được miễn dịch suốt đời với bệnh sởi và không mất tài năng miễn dịch với các bệnh khác.

Jonathan Ball, giáo sư virus học phân tử tại Đại học Nottingham, nhận xét về kết quả nghiên cứu vớt mới rằng trong môi trường hiện tại khi tỷ lệ tiêm chủng hạn chế, cần chú ý rằng tiêm vắc xin MMR rất quan trọng - không chỉ để bảo vệ chống lại virus gây các bệnh sởi, quai bị và rubella mà còn để ngừa phòng các di chứng có khả năng xảy đến sau khi nhiễm sởi.

Biểu hiện của bệnh sởi

Biểu hiện của bệnh sởi ở trẻ em và người lớn đều có đặc trứng là sốt, viêm long đường hô hấp trên, viêm kết mạc và phát ban. Khi bệnh nghiêm trọng có khả năng dẫn đến nhiều biến chứng viêm nhiễm phổi, nhiễm khuẩn não, nhiễm trùng tai giữa, nhiễm trùng giác mạc, tiêu chảy, tử vong...Bệnh sởi thường diễn biến qua những giai đoạn sau:


Cấp độ ủ bệnh: 7- 21 ngày, trung bình 10 ngày



Cấp độ khởi phát (giai đoạn nhiễm trùng long) 2 - 4 ngày: sốt cao, viêm nhiễm long đường hô hấp trên, nhiễm trùng kết mạc, đôi khi có nhiễm khuẩn thanh quản cấp, có thể có hạt Koplik phía trong miệng ngang hàm trên.

Cấp độ toàn phát 2-5 ngày: Sau sốt 3-4 ngày đối tượng mắc trĩ phát ban hồng rát sẩn từ sau tai, trán xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân.

Cấp độ hồi phục: Ban nhạt màu chuyển sang màu xám, bong vảy để lại vết thâm, vằn da hổ và mất dần

Biến chứng của bệnh sởi

Bệnh sởi là bệnh lành tính nhưng nếu không được nhận ra và trị bệnh nhanh chóng dễ gặp các di chứng hậu quả sau:

Biến chứng đường hô hấp: nhiễm trùng thanh quản, viêm phế quản, viêm phế quản phổi

Di chứng thần kinh : nhiễm khuẩn não, nhiễm trùng tủy cấp, viêm nhiễm màng não

Di chứng đường tiêu hóa: nhiễm khuẩn niêm mạc miệng,

Biến chứng tai – mũi – họng: viêm nhiễm mũi họng bội nhiễm, nhiễm khuẩn tai, nhiễm trùng tai xương chũm.

Con đường lây nhiễm bệnh sởi

Nhiều câu hỏi đặt ra là bệnh sởi có lây không? Tư vấn là bệnh sởi có thể truyền nhiễm cao với tỉ lệ khoảng 90% các người tiếp xúc với người bệnh sẽ bị lây sởi nếu chưa được tiêm phòng.

Bệnh sởi lây qua đường hô hấp: vi trùng sởi có ở mũi và cổ họng của người mắc trĩ. Họ thường đã có khả năng lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ có mặt.

Bệnh sởi lây trực tiếp khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện: Khi đối tượng mắc trĩ ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu có chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có khả năng hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại...Khi người không mắc bệnh sờ vào các nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, sẽ bị lây bệnh

Lây gián tiếp: trường hợp này ít gặp bởi siêu vi sởi dễ bị loại bỏ ở ngoại cảnh.

Biện pháp phòng tránh bệnh sởi

  • Tiêm chủng 2 mũi cho trẻ độ tuổi tiêm chủng, mũi 1 từ 9 – 12 tháng tuổi, mũi 2 từ 18 – 24 tháng.
  • Cách ly người bệnh và vệ sinh cá nhân.
  • Dùng khẩu trang N95 cho bệnh nhân, người chăm sóc, nhân viên y tế.
  • Mức độ cách ly từ lúc nghi ngờ sởi đến ít nhất sau khi phát ban 4 ngày.
  • Tăng thêm vệ sinh những nhân, sát trùng mũi họng, giữ ấm, nâng cao sức khỏe.

Tiêm chủng 2 mũi cho trẻ độ tuổi tiêm chủng, mũi 1 từ 9 – 12 tháng tuổi, mũi 2 từ 18 – 24 tháng

Hy vọng rằng bài viết trên đây đã cung cấp cho bạn đọc những thông tin hữu ích về bệnh sởi gây mất trí nhớ nói riêng cũng như bệnh sở nói chung. Nếu như gặp bắt buộc các biểu hiện trên thì các bạn cần đưa bé đến các cơ sở y tế để được thăm khám và chữa trị. Hạn chế dùng thuốc lộn xộn không theo hướng dẫn của chuyên gia chuyên khoa.

Posted By Hà Oanh11:12