Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

Nhận biết vai trò của Dinh dưỡng đối với Sức khỏe và Trí tuệ trẻ 6 - 11 tuổi

Filled under:

Độ tuổi từ 6 – 11 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển nhanh về cả sức khỏe và trí tuệ. Những chất dinh dưỡng thiết yếu không chỉ giúp bé phát triển về thể chất, mà còn bổ sung năng lượng để bé học tập. Vì thế, việc dùng một chế độ dinh dưỡng hợp lý trong từng bữa ăn hàng ngày đặc thù quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của bé trong tương lai.


Các chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự phát triển của trẻ 

Chất bột đường (Gluxit)

Năng lượng được cung cấp chủ yếu qua cơm và những sản phẩm chế biến từ gạo như bún, bánh, phở… Thỉnh thoảng cần cho trẻ ăn thêm ngô, khoai, sắn là các thực phẩm trong nhóm ngũ cốc vừa bổ sung chất bột (cho năng lượng) vừa là nguồn chất xơ tốt.

Chất Đạm (Protein)

Lượng chất đạm trong khẩu phần của bé cần nhiều hơn người lớn, nhu cầu đạm ở lứa tuổi này cần 3-3,5g/kg thể trọng (trung bình khoảng 30-50g/ngày/trẻ). Cần cho bé ăn đa dạng những thức ăn giàu đạm, cả thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt (lợn, bò, gà, vịt, ngan…), cá, cá biển, trứng, sữa (sữa bột, sữa chua, sữa đậu nành), tôm, cua; và thức ăn có nguyên nhân thực vật như đậu, đỗ, lạc, vừng.

Chất béo (Lipid)

Dầu mỡ bổ sung năng lượng cao và giúp hấp thu các vitamin A, D, E, K – các vitamin cần phải có cho sự tăng sinh của bé. Cần cho bé ăn cả dầu và mỡ, như thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, váng sữa, lòng đỏ trứng… hay dầu thực vật, lạc, vừng…

Vitamin và Chất khoáng

Mọi vitamin đều cần cho bé, đặc thù về nhu cầu vitamin A và vitamin C. Nhu cầu vitamin A của bé như người lớn từ 400-500 mg/ngày. Vitamin A có trong thức ăn động vật (thịt, trứng, cá, tôm, gan, tim…); tiền vitamin A (caroten) có nhiều trong rau, củ, quả có màu vàng, đỏ, da cam. Vitamin C cần thiết cho sự tạo máu, tăng cường hệ miễn dịch. Nhu cầu vitamin C ở độ tuổi này cần từ 55-60mg/ngày và bắt buộc được cung cấp đủ thường xuyên. Nên cho bé mỗi ngày ăn nhiều loại rau, quả theo mùa.

Chất khoáng nên cho sự tạo xương, tạo máu và những hoạt động nhiệm vụ sinh lý của các bộ phận trong thân thể. Thường xuyên trẻ 6-10 tuổi nên 400-500 mg canxi, nguồn cung cấp canxi không thiếu nhưng cần tỉ lệ thích hợp giữa canxi và photpho mới giúp canxi được hấp thu tốt, tỉ lệ Ca/P Nhất quyết là 1,5-2. Để đạt được tỉ lệ canxi/P yêu thích, bữa ăn của trẻ nên có sữa, tôm, cua, cá, trứng… thường ngày. Sắt trong nguồn thức ăn này có hàm lượng cao và dễ hấp thu. Ưu tiên cho trẻ nguồn thức ăn động vật (thịt, cá, tôm, trứng…) nhằm đảm bảo bổ sung đủ lượng sắt cho cơ thể.


Chất dinh dưỡng có nhiệm vụ quan trọng đối với thể trạng & trí tuệ bé em:

Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng trẻ nhỏ Việt Nam và Đông nam Á do Viện dinh duỡng Quốc gia phối hợp những Viện nghiên cứu vớt chất dinh dưỡng các nước chấp hành trên hơn 16.000 trẻ em từ 0.5 – 11 tuổi cho thấy: dinh dưỡng trẻ tiểu học chưa được gia đình quan tâm đúng mức! Bữa ăn mỗi ngày hao hụt chất, phần lớn thức ăn từ rau củ quả, qua chế biến mất đi 50% các vi chất dinh dưỡng cần thiết như vitamin A, Vita min B và vi tamin C; 70% trẻ em thường xuyên ăn hao hụt đạm, vita min A, vitamin D, can xi và sắt; 21% trẻ nhẹ cân, 18% bé thấp còi, 21% bé thiếu máu.

Kết quả là bé thể trạng kém, hay đau ốm, căng thẳng,, gây tốn kém cho gia đình & buôn bản hội; chiều cao thấp bé, kém xa chuẩn . Nghiên cứu giúp trên trẻ em SDD Việt nam, Ấn độ: Tỷ lệ biết đọc biết viết ở bé suy chất dinh dưỡng thấp hơn 20% so với bé dinh duỡng đầy đủ; 19% trẻ suy chất bổ thấp còi đến 8 tuổi tránh năng lực đọc viết và làm sai các bài toán đơn giản. Khi đang lớn, bé suy dinh dưỡng thường kiếm được ít tiền hơn khoảng 20% (Báo cáo năm 2013 của tổ chức “Save the Children” – Anh)

Lưu ý trong chế độ ăn cho trẻ suy chất bổ

Đa phần các bé suy dinh dưỡng đều rất biếng ăn. Những bậc bố mẹ nên ưa chuộng nhiều hơn đến con mình, cho trẻ ăn vào các giờ Tốt nhất trong ngày, tuy dịu dàng với con nhưng phải kiên quyết những khi cần phải có, tránh nuông chiều những thói quen không hay trong bữa ăn của trẻ như vừa ăn vừa xem sách, vừa ăn vừa chơi điện tử, ăn trễ giờ quy tắc, bỏ bữa, thay bữa chính bằng các món ăn phụ. 

Nếu được nên cho bé tham gia vào công việc chuẩn bị bữa ăn, lựa chọn thực đơn và cần đánh giá cao những cố gắng của trẻ cho dù đôi khi hình thức hoặc hậu quả khỏi hẳn ngược lại với dự định của người lớn.

Giảm thiểu ăn vặt, ăn hoặc uống những đồ ngọt trước bữa ăn chính. Cần phân biệt rõ ràng những bữa ăn phụ không có nghĩa là ăn vặt. Thành phần những bữa ăn phụ có khả năng hết sức đa dạng, Dù vậy nên giảm thiểu những loại thức ăn hoặc thức uống có calori rỗng (đường, kẹo, nước ngọt...).

Sữa là một thức ăn phụ rất tốt cho bé ở mọi lứa tuổi vì dễ dùng, giá trị dinh dưỡng cao. Theo khuyến cáo mọi toàn bộ người không chất thải tế nhị biệt trẻ em hay người lớn nên áp dụng khoảng 500ml sữa thường ngày. Dù thế cần chú ý ở lứa tuổi tiểu tiện học thì sữa không thể là thức ăn chính thay thế các thức ăn cơ bản đã kể ở trên, khỏi hẳn không cần áp dụng sữa để thay một bữa chính trong ngày của trẻ.

Ở tuổi này trẻ rất dễ bị những chứng bệnh có thể tác hại tới ăn uống như nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn phế quản, tiêu chảy. Nên chú ý giữ gìn để có thể đề phòng các bệnh này như giữ ấm, giữ vệ sinh thân thể và răng miệng tốt, đảm bảo sử dụng biện pháp an toàn vệ sinh thực phẩm cho bữa ăn của trẻ. Khi trẻ mắc bệnh, cần thiết phải đưa bé đến thầy thuốc chuyên khoa khám bệnh và chú ý tuân thủ những yêu cầu chữa trị của bác sĩ chuyên khoa, phải luôn nhớ rằng hiện tượng chất bổ trẻ nhỏ nghiêm trọng đi sẽ tỉ lệ thuận với thời kì mắc bệnh.

Khi bé bệnh, thường hệ tiêu hóa làm việc kém đi cần bé biếng ăn hơn ngày thường. Đừng cần hốt hoảng bắt ép trẻ ăn đủ lượng thức ăn thường xuyên bằng toàn bộ cách. Cần chia những bữa ăn ra làm nhiều bữa nhỏ, có thể cho ăn lỏng nhẹ hơn như cháo, súp, sữa. Cũng cần hạn chế một thái độ lành hẳn ngược lại là quá kiêng cữ, không cho bé ăn đủ chất trong khi bệnh, khiến cho trường hợp dinh dưỡng của trẻ không tốt đi kịp thời và bệnh có thể kéo dài hơn. Sau mỗi đợt bệnh, nên lưu ý tăng thêm bữa phụ cho bé để bù lại năng lượng đã mất đi trong quá trình bé bị bệnh.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh08:37

Dạy bé chập chững từ những bước đi căn bản

Filled under:

Trẻ biết đi sớm là biểu hiện của sự phát triển tốt. Thế nhưng, biết đi sớm chỉ là dấu hiệu chứng tỏ cơ năng vận động của những trẻ phát triển hơi sớm, chưa có sự tăng sinh rõ về trí lực.

1. Khi nào nên dạy trẻ tập đi?

Đa phần trẻ em bước các bước đi đầu đời khi được 1 tuổi, cũng có bé sớm hơn hay trễ hơn 1 chút. Để có được những bước đi căn bản, bé phải trải qua nhiều giai đoạn:
  • Bắt đầu với biết lẫy (3 tháng)
  • Biết ngồi (6 tháng)
  • Biết bò
  • Biết đi
Những mốc tuổi này chỉ là hơi và không trẻ nào giống trẻ nào. Có vài trẻ bỏ mức độ bò mà tiến thẳng từ ngồi sang đứng dậy và đi.

2. Dạy bé tập đi như thế nào?

Ở giai đoạn đầu tiên khi trẻ tập đi, trẻ sẽ đứng ở thế 2 chân dạng rộng ra, cùng với ngón chân hướng ra ngoài, còn hai cánh tay thì dang ra và khuỷu tay tương đối gấp lại. Lúc này bé không đi theo một đường thẳng mà thường bước theo hướng từ phía bên này quý phái phía bên kia.

Mặc dù lúc đầu trẻ tập đi sẽ liên tục bị hụt chân và vấp ngã, song khi đã đi được vài tháng bé sẽ đủ tự tin để thực hiện 1 loạt các thao tác phức tạp như bước chân lịch sự 2 bên hay bước lùi, cúi xuống nhặt đồ vật, vừa đi vừa ném bóng.


3. Có nên áp dụng xe cho bé tập đi?

Có đa số đồ chơi dành cho bé tập đi. Dù vậy, điều này là không khuyến khích và không thực sự cần phải có. Trong danh mục chỉ dẫn trẻ thực hành, các bác sĩ chuyên khoa sức đề kháng không khuyến khích cha mẹ áp dụng những loại xe cho trẻ tập đi với các nguồn gốc sau:

Xe cho bé tập đi không hề giúp trẻ biết đi sớm hơn. Nguyên nhân là do việc vận động được mà không nên cố gắng sẽ càng khiến cho trẻ lười tập đi thực sự khi tới lúc. Bên cạnh đó, trẻ quen chuyển động mà không nên nâng toàn bộ trọng lượng cơ thể, lâu ngày làm cho cơ - xương không lớn mạnh được như bình thường.

Bé tập đi bằng cách quan sát cách đôi chân của mình di chuyển, nhưng khi ngồi trong chiếc xe tập đi, bé không nhìn ra phần thân dưới của cơ thể di chuyển như thế nào, hệ thần kinh bị tước mất các thông tin cảm giác cần có để bé tập đi hiệu quả.

Tư thế bé tập đi trong xe tập đi không phải tư thế đứng tự nhiên của con người, cách trẻ di chuyển trong xe cũng dứt điểm phi tự nhiên. Bạn nên quan sát cách bé đứng trong xe cho trẻ tập đi, bé thường nửa đứng nửa ngồi, chân cong và chỉ vận động bằng cách đẩy đầu mũi chân chứ không như cử động bước đi bình thường là đặt cả gót chân xuống. Nếu ở trong xe cho bé tập đi quá lâu thì bé sẽ bị biến dạng xương, gây dị tật chân vòng kiềng chữ O, chữ X và tác động đến dáng đi sau này.

Theo quá trình gia tăng tự nhiên, trẻ buộc phải biết lẫy/lật (và buộc phải có nhiều mức độ để tự do lẫy/lật) để rèn luyện cơ cổ, cơ vai, sau đó là trẻ biết trườn bò (và bắt buộc có nhiều thời kì để tự do trườn/bò) để rèn luyện cơ cánh tay, cơ chân, nhất là sự phối hợp tay-mắt. Nếu dùng xe cho bé tập đi, trẻ sẽ không có thuận tiện trườn bò nhiều quanh nhà để rèn luyện cơ bắp, thậm chí nhiều gia đình cho trẻ ngồi xe tập đi rất sớm (5 tháng) nên những trẻ đã bỏ qua cấp độ bò. Đây là một thiệt thòi rất lớn đối với trẻ.

Xe cho trẻ tập đi còn hạn chế sự nghiên cứu và tăng sinh của trẻ. Ở thời gian 6 tháng trở đi, những bé biết bò và thường bò quanh nhà, sờ mó vào bất kì món đồ nào, tìm cách với tay để lấy đồ vật, biết chơi các món đồ chơi, biết tìm món đồ mà mẹ giấu đi,... Qua đó, bé tăng sinh nhận thức và cảm xúc. Nếu cho trẻ ngồi trong xe cho bé tập đi nhiều, trẻ sẽ không có cấp độ chơi dưới sàn nhà và tự mình tìm tòi như vậy, mà với bé, "thế giới rộng lớn" chỉ bó hẹp quanh cái xe tập đi và vài món đồ chơi gắn trên xe mà thôi. Đó là một sự thiệt thòi thật sự.

Xem thêm: Khi nào bé ngồi xe tập đi là hợp lý?

Xe cho trẻ tập đi rất hậu quả, có khả năng gây chấn thương cho trẻ.


Dạy bé tập đi đi trên sàn nhà và không mang giày


>>Xem thêm: http://benhromsay.com/be-bi-rom-say-phai-lam-gi-cho-nhanh-het/

4. Bố mẹ cần làm gì khi dạy bé tập đi?

Dạy trẻ tập đi trên sàn nhà và không mang giày. Như vậy, trẻ sẽ được tiếp xúc trực tiếp với nền đất. Chỉ khi trẻ đã đi vững hơn một chút, mẹ mới cần cho con đi lại bằng giày. Thời kì từ 0-3 tuổi, bàn chân trẻ được cấu tạo bởi 70% là sụn. Độ tuổi này cũng là cấp độ quyết định tới sự gia tăng xương bàn chân của trẻ. Nếu dạy trẻ tập đi không đúng cách, hay mang bắt buộc những đôi giày không vô tư sẽ dẫn tới sự phát triển sai lệch của xương bàn chân và dễ dẫn đến các triệu chứng như bàn chân bẹt, chân vòng kiềng, ngón chân búa, móng mọc ngược vào trong.

Dìu, nâng đỡ bé đi từng bước một, nhưng không thúc đẩy hay kéo bé đi theo mình, dễ gây trật cổ tay hay xương vai trẻ. Bạn có thể quỳ gối trước mặt bé và đỡ bé bằng hai tay khi trẻ di chuyển trong nhà, khi bé đã đi thành thạo, bạn có thể sử dụng tay dắt trẻ đi.

Khi bạn thay trang phục cho trẻ, hãy để trẻ đứng. Trẻ đứng nhiều sẽ chắc khỏe cơ, xương chân, là tiền đề rất tốt để trẻ tập đi.

Cần lót sàn nhà bằng những miếng xốp, đệm để bước chân bé được vững hơn, không bị trơn trượt, đồng thời bảo vệ bé khi ngã.

Khi trẻ đã biết đứng vịn tay vào đồ vật, bạn có thể huấn luyện bé vịn tay vào ghế, thành giường và bước từng bước, di chuyển từ ghế này lịch sự ghế khác.

Giảm thiểu bế trẻ, chỉ nên bế lúc thiết yếu. Bên cạnh đó, bạn hãy để bé được tự do ngồi, nằm chơi. Những bé quen được bế bồng sẽ không thích tập đi nữa.

Đề phòng các vật cao: Không bao giờ được để trẻ một mình trên giường, bàn hay các đồ nội thất cao khác trong nhà. Cần dùng dây đeo dùng biện pháp bảo vệ khi bé ngồi trên xe đẩy hoặc ghế dành cho trẻ. Giảm thiểu cho bé chơi một mình ngoài balcon. Sử dụng các thanh chặn cầu thang, chặn cửa cũng là cách giữ dùng biện pháp bảo vệ cho trẻ.

>>Có thể bạn quan tâm: 

Posted By Hà Oanh08:22

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Chẩn đoán bại não và cách điều trị

Filled under:

Bại não (hay liệt não) là thuật ngữ chỉ một nhóm hiện tượng bệnh lý ảnh hưởng đến sự kiềm chế các di chuyển cũng như tư thế. Do một hoặc nhiều phần của bộ não có nhiệm vụ điều khiển cử động bị tổn hại nên bệnh nhân trĩ không thể cử động những cơ của mình một cách bình thường. Triệu chứng diễn ra từ nhẹ đến nặng, gồm cả những dạng thức tê liệt.

Bại não là gì?

Bại não là cách gọi tiếng Việt của Cerebral Palsy (CP) mà nhiều nhà chuyên môn và bố mẹ thường quen sử dụng, theo các bác sĩ chuyên khoa tại Trung tâm Vina Health cách gọi này mang tính bi quan và gây sợ hãi cho những bậc phụ huynh, chúng ta cần dịch sát nghĩa là tổn thương não.

Bại não không phải là bệnh:

Bại não là từ miêu tả một loạt những tổn thương từ não bộ gây đe dọa đến sự gia tăng vai trò vận động, ngôn ngữ, cảm giác của trẻ…

Bại não có nhiều dạng mỗi dạng sẽ có các dấu hiệu khác nhau, do một hoặc nhiều phần của bộ não có nhiệm vụ điều khiển cử động bị tác hại, nên người mắc bại não không thể cử động các cơ của mình một cách bình thường.


Infographic về bại não

Phân loại các thể bại não

1. Bại não thể co cứng (Spastic cerebral palsy)

Khoảng 70 – 80% số người mắc bại não ở thể thể liệt cứng với các cơ co cứng, cử động khó khăn. Tình trạng nghiêm trọng nhất là liệt cứng tứ chi, trong đó cả bốn chi và thân người bị liệt và thường thì cả những cơ điều khiển mồm và lưỡi cũng bị liệt. Bé mắc bại não co cứng có tỷ lệ cao bị chậm trí tuệ và có các vấn đề khác.


Bại não thể co cứng chiếm tỷ lệ cao nhất
2. Bại não thể loạn động (Dyskinetic cerebral palsy)

Được đặc thù bằng hệ lụy không ổn định của trương lực cơ (lúc tăng, lúc giảm) và thỉnh thoảng có các cử động không kiềm chế được (có thể là các cử động chậm và đau hoặc nhanh và giật giật). Trẻ mắc thể này thường khó có tư thế ngồi hoặc dáng đi bình thường. Do những cơ điều khiển nét mặt và lưỡi cũng bị hậu quả nên người mắc bại não thể loạn động cũng gặp vất vả khi bú, nuốt và nói.

3. Bại não thể thất điều (Ataxic cerebral palsy)

Khoảng 10% số người mắc bại não thể thất điều, thể này tác động tới khả năng cân bằng tư thế và phối hợp động tác. Người mắc bại não thể thất điều có khả năng đi nhưng với một dáng điệu không vững và gặp vất vả với những cử động nhu yếu sự phối hợp chính xác, ví thử như viết.


Bại não thể máu vờn do hậu quả những nhân vùng nền não

4. Các thể ít gặp

Bên cạnh đó bé còn có khả năng bị mắc bại não ở những thể khác như: bại não thể múa vờn, thể nhẽo, thể phối hợp…với tỉ lệ thấp hơn.

Biểu hiện của bại não

1. Không kiên định vận động

Khi vận động thì chân tay di chuyển không nhịp nhàng, đa phần di chuyển lệch hai bên. Đi tiểu thì không thể dạng hai chân ra được. 3 Tháng vẫn chưa biết ngẩng đầu, 6 tháng chưa biết lật, 8 tháng vẫn chưa ngồi vững. Cơ thể mềm oặt và vận động tự phát rất ít.

2. Xáo trộn sinh lý

trình độ nuốt nghiêm trọng, mức độ ngủ quá dài hoặc không ngủ, cơ thể cứng đờ, vòng đầu thất thường, sau khi sinh không bú được, bú không có lực, sau khi bú thì người mệt lả, thường ngày lộ diện tình trạng ho sặc sụa, trớ sữa, trình độ ngậm và mở miệng không nhỏ, cân nặng tăng không đáng kể.

3. Không kiên định ngôn ngữ

60% – 95% người bại não đều bị xáo trộn ngôn ngữ. Có biểu hiện như gặp vất vả trong việc biểu đạt hoặc chọn từ ngữ, Bên cạnh đó cũng có những biểu hiện như phát âm không chuẩn hoặc nói lắp, cũng có những dấu hiệu như chứng mất ngôn ngữ. Hiện tượng này thường gặp nhiều ở các người bại não thể múa vờn (loạn động).

4. Xáo trộn trí tuệ

Thống kê tại Việt Nam cho thấy chỉ có khoảng 25% người bại não ở thời gian nghiêm trọng có trí sáng suốt và nhận thức bình thường, bại não ở mức độ nhẹ và vừa có khoảng khoảng 50%. Lộn xộn trí thông minh là một trong các triệu chứng dễ nhận biết của bại não, vấn đề này có thể cải thiện vấn đề này qua trị liệu hành vi, giáo dục hòa nhập.

5. Đảo lộn thị giác

Khoảng hơn một nửa số bệnh nhi sẽ bị xáo trộn thị giác một bên, tình trạng thường gặp nhất đó là mắt bị lác trong và mắt bị tật về khúc xạ như cận thị, nhược thị…một số ít có trường hợp rung giật nhãn cầu, cũng có trường hợp bị mù hoàn toàn. Bệnh nhi bị liệt nửa người cũng có khả năng bị mù bên bị liệt. Khiếm khuyết thị giác có thể đe dọa đến tài năng phối hợp của mắt, tay.

6. Rối loạn tinh thần

Mắt thường không nhìn vào bố mẹ, hay bị co giật. Không cười, dễ giật mình, dễ bị co rúm người lại, mỗi ngày la hét hoặc cáu kỉnh khó chịu

7. Xáo trộn thính giác

khả năng nghe của các bệnh nhi giảm dần cho đến bị điếc khỏi hẳn. Với các bệnh nhi mới sinh mắc chứng tăng bilirubin máu, tạo nên trường hợp bệnh nhi bị loạn động tay chân là trường hợp thường gặp nhất. Đa phần bị mất trình độ nghe với những âm tần cao, nên buộc phải đo điện thính giác thân não mới có thể nhìn ra

Nguyên nhân của bại não

  • Nguyên nhân gây chứng bại não được chia thành 3 loại:
  • Nguyên nhân bại não trong quá trình mang thai chiếm 60% ~ 65%
  • Nguyên nhân trước khi sinh chiếm 30% ~ 40%
  • Nguyên nhân sau khi sinh chiếm 12%
  • Nguyên nhân trước khi sinh: Chứng bại não ở trẻ thường hiện diện khi phái đẹp bị viêm thai kì như rubella (sởi Đức), cytomegalovirus và toxoplasmosis có thể gây nguy hại não của đứa trẻ trong bụng và gây bại não sau này. Các nhiễm khuẩn khác như nhiễm khuẩn ối, viêm nhiễm hệ tiết niệu – sinh dục của người mẹ cũng có khả năng gây nên sinh non. Một trong những nguyên nhân nữa chính là hao hụt khí não "giọt máu" do trẻ sinh ra bị ngạt.
  • Trẻ bị vàng da nhân do sự tích tụ trong máu một loại sắc tố có tên bilirubin do tốc độ phá hủy hồng cầu cao và chức năng gan chưa đang lớn ở trẻ sơ sinh, sắc tố này vượt qua hàng rào động mạch – não và lắng đọng chủ yếu ở các nhân nền của não và làm hậu quả các cấu trúc này đem đến chứng bại não.



Bệnh nhân trĩ mắc rubella khi thai phụ


Nguyên nhân trong thai kỳ: Sinh non có khả năng rất cao bị xuất huyết não gây nguy hiểm các tổ chức đang phát triển của não hoặc gây cần chứng nhuyễn hóa chất trắng quanh não thất. Hàng năm, tại Mỹ có khoảng 50.000 bé sinh non cân nặng chưa đạt tới 1500g, 85% trong số những bé còn sống thì có khoảng 5%~15% bị mắc bại não, 25%~30% mắc chứng bất ổn tâm thần ở độ tuổi đi học.



Sinh non là nguyên nhân bậc nhất gây bại não

Nguyên nhân sau khi sinh: Bao gồm nhiễm trùng, chấn thương bên ngoài, trúng độc, xuất huyết nội sọ và ngạt nặng. Bé mới sinh bị co giật, trẻ có cân nặng dưới 2500g nên buộc phải được chăm sóc đặc trưng, trẻ ở trạng thái bị ức chế là các nhân tố gây nên bại não.


Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, nhiễm trùng phổi hít, viêm nhiễm màng não, mất nước, vàng da, tụ máu nội sọ, viêm nhiễm máu dẫn đến trường hợp bị sốc, xẹp phổi làm cho não thiếu hụt oxy, bilirubin trong huyết thanh cao hơn 16mg/dl có mối liên quan mật thiết đến bại não, đặc trưng là bé trong thời kì mới sinh mà áp dụng kháng sinh toàn thân thì tỷ lệ mặc bại não hơi cao.


Não mô cầu gây viêm màng não mủ nhìn trên kính hiển vi

Chẩn đoán bại não

Hiện nay không có bí quyết nào chẩn đoán chính xác về bại não, thầy thuốc chuyên khoa thường buộc phải quan sát trong cấp độ dài để xác định bại não (khám trương lực cơ, sự gia tăng vận động, giao tiếp…). Mặt khác những kiểm tra xác định hình ảnh như siêu âm não qua thóp, chụp cắt lớp vi tính (CT), đặc thù là chụp cộng hưởng từ (MRI) cho biết những thông tin giá trị về nguy hại não. Những kiểm tra hóa sinh hay di truyền tùy theo hướng dự đoán trên lâm sàng.

Đo điện não đồ (EEG) cũng là một kiểm tra cơ bản không thể hao hụt trong nhận dạng bại não cũng như những bệnh của hệ thần kinh trung ương khác.


Chụp CT não

Tỷ lệ phát chứng bại não khoảng 1,2-2,5% (với mỗi nghìn ca sống sót sau khi sinh). Trên 90% trẻ nhỏ bị bại não sẽ sống tới thời kỳ trưởng thành, chỉ có những đứa trẻ chịu tác động nặng nhất sẽ không có khả năng sống sót hoặc thời gian sống rất ngắn.

Điện não đồ
  • Điện dự đoán là phương pháp xác định xét nghiệm bại não thường thấy nhất, chủ yếu bao gồm:
  • Điện não đồ (electroencephalogram)
  • Điện vị
  • Điện não địa hình đồ (BEAM)
  • Điện cơ đồ
  • Sơ đồ trở kháng máu não (REG)
  • Chụp CT não
  • Chẩn đoán triệu chứng

Bại não có chữa được không?

Toàn bộ não không bị nguy hại mà chỉ một phần bị có hại và chủ yếu ớt là phần não điều khiển chuyển động, ngôn ngữ. Phần não tác hại không có khả năng hồi phục lại nhưng cũng không tiến triển không nhỏ đi. Tuy nhiên, những cử động, tư thế và những vấn đề khác liên quan đến bại não có khả năng được cải thiện hay không nhỏ đi sẽ tùy thuộc vào việc trị bệnh của chúng ta.

Phải hiểu rằng: Một bé bị bại não sẽ phát triển thành một người lớn bại não. Ở thời kỳ này, tìm kiếm để chữa trị phần não bị tổn hại là điều không tưởng, điều cần làm là giúp đỡ bé có chất lượng sống Nhất định với khuyết tật của mình và càng độc lập tự phục vụ chừng nào tốt chừng đó.

Điều trị bại não

hiện nay có tương đối nhiều chương trình nói về việc chữa trị bại não như: Diện chẩn, châm cứu vớt bấm huyệt, ghép tế bào gốc, oxy cao áp…Tuy nhiên khoa học trên Thế giới chỉ công nhận Phục hồi nhiệm vụ là bí quyết Nhất định và có hiệu quả nhất với mọi các bé bại não.

Chữa trị bại não cần phải kết hợp:
  • Phục hồi vai trò chuyển động (với tình trạng trẻ chậm tăng sinh về vận động)
  • Trị liệu ngôn ngữ (với trường hợp trẻ chậm nói, gặp khó khăn với âm ngữ)
  • Điều hoà cảm giác (trẻ bị lộn xộn cảm giác)
  • Đào tạo kỹ năng cá nhận (thích nghi với khuyết tật của bản thân, nâng cao năng lực tự phục vụ)
  • Giáo dục hòa nhập (mang đến cho trẻ cơ hội hòa nhập, tương tác với xã hội và tham gia vào xu hướng chính của cuộc sống)
Việc phục hồi nhiệm vụ trừ diệt trên thế giới được chú trọng phần lớn, nhưng ở Việt Nam thường chỉ chú trọng về phục hồi vai trò di chuyển. Đừng quên rằng toàn bộ trẻ nhỏ đều phải được gia tăng diệt cả về chuyển động, hành vi, kỹ năng cá nhân – xã hội, ngôn ngữ, tâm lý…

Để tăng sinh được loại bỏ như vậy nên bắt buộc kết hợp nhiều bí quyết theo một quá trình được đánh giá liên tục về hậu quả.

Bé bại não có khả năng đi lại được không?

Đây là vấn đề mà phần lớn phụ huynh của bé bại não sử dụng rộng rãi. Những bé có thể đi lại được chỉ sau vài tháng tập luyện phục hồi chức năng (có trường hợp bé 5 tuổi đi lại được sau 3 tháng tập luyện tại Trung tâm Vina Health) nhưng nếu hiện tượng quá nghiêm trọng có thể không bao giờ đi được và chúng ta nên buộc phải chấp nhận điều này để hướng tới những mục tiêu quan trọng khác của trẻ.

Cho dù trẻ có đi được hay không trẻ cũng cần bắt buộc được tạo điều khiếu nại để chuyển động từ nơi này thanh lịch nơi khác. Có nhiều cách để giúp trẻ có thể đi tới nơi bé muốn như sử dụng xe lăn, xe đẩy hoặc các loại thiết bị, dụng cụ hỗ trợ khác.

Mặc dù năng lực đi lại có một ý nghĩa rất lớn về yếu tố nhiệm vụ và xã hội. Dù vậy đứng về khía cạnh nhu cầu của trẻ, ngoài việc đi lại được còn có phần lớn kỹ năng và thái độ suy nghĩ khác cũng hết sức nhu yếu đó là:

  • Sự tự tin và yêu đời
  • Có khả năng giao tiếp và tạo mối "giao ban" với tất cả người
  • Tự săn sóc bản thân như tự ăn, mặc trang phục và làm vệ sinh.
  • Tự tiếp thu, tìm tòi và học tập
Chúng ta cần phải nhận thức được rằng trước khi bé có thể đi được thì trẻ nên buộc phải biết tự chủ đầu, cổ của mình, giảm gồng cứng, biết ngồi và có khả năng giữ cân đối trong khi đứng.

Một số bé bại não có thể đi học, mặc dù thường chậm hơn nhiều so với trẻ bình thường. Tóm lại, hiện tượng tác hại càng nhẹ, điều trị sớm, đúng phương pháp thì bé càng có nhiều tài năng đi lại được.

Toàn bộ bí quyết dạy và tập luyện đều buộc phải có sự yêu thương và đùm bọc.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh17:30

Bệnh Kawasaki: bệnh hiếm gặp ở trẻ em

Filled under:

Bệnh Kawasaki là hiện tượng sốt cấp hay kèm phát ban toàn thân ở trẻ em, với đặc điểm có viêm lan tỏa của hệ mạch máu nhỏ và vừa trên toàn cơ thể, bao gồm cả động mạch vành bổ sung máu cho cơ tim. 

Kawasaki còn gọi là triệu chứng hạch bạch huyết niêm mạc. Đây là tình trạng gây viêm nhiễm ở tĩnh mạch, mạch máu và tĩnh mạch. Nó cũng đe dọa tới các hạch bạch huyết và tạo ra các biểu hiện khác thường ở mũi, miệng và cổ họng của bệnh nhân trĩ.

Ở mỗi mức độ, bệnh sẽ triệu chứng những dấu hiệu khác nhau.

Bệnh Kawasaki là gì?

Kawasaki cũng là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh tim ở trẻ nhỏ. Hiệp hội Bệnh Kawasaki tại Mỹ ước tính có khoảng 4.200 trẻ em mắc bắt buộc căn bệnh này mỗi năm. Dù nó có khả năng tác động tới trẻ nhỏ và thanh thiếu niên thuộc mọi vùng miền trên thế giới nhưng bé có gốc châu Á và Thái Bình Dương có nhiều nguy cơ hơn. Bé trai cũng có khả năng bị bệnh cao hơn trẻ gái.

Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, đặc trưng là trẻ nhỏ từ 1-2 tuổi. Trong rất nhiều những trường hợp, bé sẽ hồi phục trong vài ngày chữa bệnh mà không gặp buộc phải bất kỳ vấn đề nặng nào. Bệnh cũng hiếm khi tái phát. Song nếu không được chữa bệnh tích cực, Kawasaki có khả năng tạo nên bệnh tim nặng. Đây là căn bệnh hiếm gặp nhưng một khi đã mắc phải và được chữa bệnh khỏi, người bệnh cần được tái khám suốt đời.

Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được y học chuẩn đoán. Song các nhà nghiên cứu về căn bệnh này cho rằng đó là kết quả của sự cộng hưởng yếu tố di truyền và đe dọa xấu từ môi trường sống.

Biểu hiện bệnh Kawasaki ở thời kì đầu

Trong thời kì đầu, các dấu hiệu bệnh Kawasaki có khả năng kéo dài tới 2 tuần, bao gồm:

– Sốt dai dẳng từ 5 ngày trở lên
– Phát ban toàn thân
– Mắt đỏ
– Môi sưng đỏ
– Lưỡi giống như bị phồng rộp, màu đỏ giống màu quả dâu chín
– Sưng hạch bạch huyết
– Sưng phù tay, chân
– Lòng bàn tay, lòng bàn chân nổi nhiều mẩn đỏ
– các vấn đề về tim cũng có thể góp mặt trong thời kì này.


Biểu hiện bệnh Kawasaki ở cấp độ muộn

Triệu chứng bệnh trong mức độ muộn sẽ khai mạc trong vòng 2 tuần sau khi bị sốt. Da trên bàn tay và bàn chân của đối tượng mắc trĩ có thể sẽ bị bong tróc. Những đối tượng mắc trĩ có thể bị đau khớp hoặc viêm khớp cấp tính.

Các triệu chứng khác bao gồm:

– Đau bụng
– Trớ
– Tiêu chảy
– Giãn túi mật
– Mất thính giác tạm thời.

Dấu hiệu bệnh có thể lộ diện không đầy đủ. Do vậy, bạn hãy đưa người bệnh đến trung tâm y tế ngay khi phát hiện một trong các biểu hiện bất thường vừa nêu.

Nhận biết bệnh Kawasaki

Không có phương pháp xét nghiệm cụ thể nào để nhận dạng căn bệnh này. Thầy thuốc chuyên khoa sẽ căn cứ vào triệu chứng trên cơ thể bệnh nhân và áp dụng phương pháp loại trừ với các bệnh có triệu chứng tương tự, giả sử như:

– Sốt viêm do virus
– Sốt phát ban
– nhiễm khuẩn khớp dạng thấp
– Bệnh sởi
– Ngộ độc thực phẩm
– Dị ứng

Bác sĩ chuyên khoa cũng có thể chỉ định người bệnh tuân thủ các xét nghiệm bổ sung để xét nghiệm xem bệnh có gây tác hại tới tim hay không và tác động ở cấp độ nào. Các kiểm tra đó bao gồm:
  • Siêu âm tim
Siêu âm tim là một phẫu thuật y tế sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của tim và các mạch máu trong cơ thể. Thủ thuật này có thể cần được thực hiện nhiều lần để xét nghiệm xem bệnh Kawasaki đã ảnh hưởng đến tim theo thời kì như thế nào.
  • Xét nghiệm máu
Thủ thuật này được chấp hành để thầy thuốc có thêm cơ sở loại trừ những căn bệnh khác làm cho dấu hiệu tương tự. Với bệnh Kawasaki, số lượng bạch cầu tăng cao. Trong khi đó, số lượng tế bào hồng cầu lại hạ thấp thất thường.
  • Chụp X-quang ngực
Chụp X-quang ngực sẽ cho bạn thấy hình ảnh của tim và phổi. Thủ tục này cần chấp hành để xét nghiệm triệu chứng nhiễm khuẩn phổi hoặc suy tim.
  • Điện tâm đồ
Phẫu thuật này sẽ ghi lại sinh hoạt điện tim để thầy thuốc nhìn thấy những biểu hiện bất ổn.
Khi bệnh nhân trĩ sốt cao dai dẳng từ 5 ngày trở lên kèm với dấu hiệu bong tróc da ở bàn tay và bàn chân thì có rất nhiều năng lực đã bị bệnh Kawasaki.

Chữa bệnh bệnh Kawasaki

Bệnh kawasaki có thể gây tổn thương tim

Ngay khi có hậu quả nhận ra bệnh Kawasaki, bệnh nhân cần được trị bệnh tích cực càng nhanh càng tốt để phòng tránh trình độ bệnh tác hại tới tim.

Trong quá trình chữa trị, chuyên gia sẽ cho đối tượng mắc trĩ truyền kháng thể qua đường tiêm động mạch trong vòng 10 ngày sau khi bị sốt. Mức độ truyền mất khoảng 12 giờ. Sau đó, người mắc trĩ được áp dụng một liều aspirin thường xuyên trong 4 ngày tiếp theo.

Trẻ nhỏ bị bệnh Kawasaki cần tiếp tục sử dụng aspirin để ngăn ngừa trình độ tạo ra cục máu đông trong khoảng 6-8 tuần sau khi hết sốt.

Đều trị bệnh sớm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ngăn chặn các vấn đề nghiêm trọng về tim. Những chuyên gia y tế cũng nghĩ rằng nếu được nhận dạng và điều trị trước ngày sốt thứ 5, giai đoạn điều trị bệnh sẽ rút ngắn và bệnh nhân cũng sẽ có thể trạng với căn bệnh này cao hơn.

Với các người bệnh nhận thấy bệnh ở giai đoạn muộn, giai đoạn chữa bệnh có khả năng lâu hơn để ngăn ngừa nguy cơ tắc nghẽn động mạch hoặc đau tim. Trong trường hợp này, quá trình chữa trị đòi hỏi người mắc trĩ bắt buộc áp dụng kháng sinh và aspirin hàng ngày cho tới khi hậu quả siêu âm tim cho thấy không có biểu hiện không ổn định. Khoảng mức độ này có thể mất từ 6-8 tuần hoặc lâu hơn tùy vào khả năng đáp ứng chữa trị của mỗi người bệnh.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh16:59

Bệnh khô môi ở trẻ sơ sinh. Nguyên nhân và cách điều trị

Filled under:

Tình trạng khô môi ít gặp ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nếu con bạn gặp phải vấn đề này, bạn cần tìm cách khắc phục càng nhanh càng tốt bởi nó sẽ khiến bé khó chịu và gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc ăn, ngủ của bé.

Trong những trường hợp nghiêm trọng, khô môi ở trẻ sơ sinh có thể khiến cho môi bé bị nứt nẻ, nghiêm trọng hơn nữa là viêm môi. Vấn đề này đe dọa trực tiếp tới thể lực, thậm chí là mạng sống của trẻ.

Lý do gì trẻ gặp hiện tượng khô môi ở bé sơ sinh?

Có phần lớn nguyên nhân gây ra tình trạng khô môi ở trẻ sơ sinh. Đó có thể là do thói quen liếm hoặc mút môi quá nhiều. Nguồn gốc phổ biến khác là do trẻ bị bú không đủ, mất nước do ốm, sốt hoặc thời tiết hanh khô.

Mùa đông lạnh, mùa hè nóng bức hoặc tiếp xúc quá nhiều với gió trời có thể khiến môi bé bị mất độ ẩm. Bên cạnh đó, khi bé bị nghẹt mũi, thở bằng miệng cũng sẽ bị khô môi ở nhiều thời kì.

Làm thế nào để biết trẻ sơ sinh đang bị mất nước?

Theo các chuyên gia chuyên khoa nhi khoa, các triệu chứng mất nước ở trẻ sơ sinh bao gồm:

– Lưỡi khô, môi khô

– Tã lâu đầy nước đái

– Thóp phập phồng nhiều thất thường

– Mắt trũng sâu

– Da khô và nhăn

– Thở gấp

– Tay, chân mát lạnh

Nếu trẻ gặp bất kỳ biểu hiện vừa nêu, hãy đưa bé tới cơ sở y tế càng nhanh càng tốt để chuyên gia thăm khám bài bản theo chuyên môn y tế.

Điều gì sẽ diễn ra ra với trường hợp khô môi ở trẻ sơ sinh mãn tính?

Nếu trẻ bị khô môi trong một giai đoạn dài hoặc quay lại nhiều lần, đó có khả năng là dấu hiệu của một vấn đề thể trạng khác.

Đó có thể là hiện tượng thiếu hụt hoặc dư thừa một hoặc vài loại vitamin hạn chế, nhất là vitamin A.

Một vấn đề nặng khác về thể trạng nên chú ý là bệnh Kawasaki. Đây là căn bệnh hiếm gặp, diễn ra ra ở trẻ nhỏ, có liên quan trực tiếp tới nhiễm khuẩn động mạch và các hội chứng về tim mạch. Khô môi mãn tính chỉ là một trong các biểu hiện của căn bệnh này. Bệnh nhi luôn bị sốt cao và trông gầy yếu. 

Những biểu hiện khác của bệnh Kawasaki bao gồm:

– Phát ban toàn thân, đặc trưng nhiều hơn ở vùng háng

– Mắt đỏ

– Môi đỏ, sưng, khô, nứt nẻ

– Sưng hạch bạch huyết ở cổ

– Lưỡi dâu tây (xuất hiện các đốm đỏ tươi)

– Sưng phù tay, chân

Nếu bạn nghi ngờ con mình đang bị bệnh Kawasaki, hãy đưa con đến trung tâm y tế ngay lập tức. Đa số những biểu hiện bệnh chỉ là tạm thời và rất nhiều bệnh nhi đều có khả năng hồi phục dứt điểm. Song tim và tĩnh mạch có khả năng bị ảnh hưởng lâu dài. Do đó, bạn nên phải làm đúng liệu trình chữa trị của thầy thuốc, không tự ý hạ sốt hoặc trị bệnh triệu chứng tại nhà.

>>Xem thêm: https://suckhoedoisongsumhevi.blogspot.com/2019/11/chuyen-gia-y-te-canh-bao-benh-bach-hau.html

Cách điều trị hiện tượng khô môi ở trẻ sơ sinh

Điều Tuyệt đối và dễ làm nhất giúp bạn khắc phục hiện tượng khô môi ở trẻ sơ sinh là thoa một ít sữa mẹ lên môi của con. Xung quanh hàm lượng dưỡng chất dồi dào, sữa mẹ còn có đặc tính làm mềm da và kháng khuẩn. Khi bạn dùng ngón tay hoặc tăm bông thấm sữa mẹ bôi vào môi con, bé sẽ bớt khó chịu.

Trong những hiện tượng, trẻ bị khô môi do không bú đủ lượng sữa cần thiết thường xuyên. Các thầy thuốc nhi khoa cho biết phần lớn trẻ sơ sinh nên được bú từ 8-12 lần thường xuyên, tức là cứ sau 2-3 giờ, trẻ nên được bú 1 lần.

Bạn cũng có thể dùng loại son dưỡng môi tự nhiên dành riêng cho trẻ sơ sinh, bôi trực tiếp vào môi của con hoặc bôi vào núm vú để môi con tiếp xúc trực tiếp với những hoạt chất dưỡng môi khi bú mẹ. Nếu không muốn áp dụng son dưỡng môi, bạn có thể thay bằng dầu dừa.

Làm thế nào để khống chế tình trạng khô môi ở bé sơ sinh?

Phòng tránh là cách Tuyệt đối giúp con bạn giảm thiểu khỏi trường hợp môi khô hoặc nứt nẻ. Điều ban đầu và quan trọng nhất nên khiến bé bú đủ lượng sữa cần phải có hàng ngày.

Đảm bảo nhiệt độ trong phòng hoặc trong nhà duy trì ở mức lý tưởng. Một chiếc máy tạo độ ẩm vào mùa đông hoặc các ngày thời tiết hanh khô sẽ giúp bạn làm được điều này.

Để hạn chế trường hợp khô môi ở trẻ sơ sinh do thời tiết bên ngoài, mỗi lần cho con ra ngoài, đặc thù là khi trời nhiều gió hoặc nắng gắt, bạn hãy che mặt con bằng khẩu trang vải mềm hoặc khăn choàng thoáng khí.

Khi đã áp dụng tất cả phương pháp chữa bệnh hoặc phòng ngừa khô môi cho bé tại nhà mà tình hình vẫn không được cải thiện, bạn cần đưa con đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa tư vấn và nhận dạng trường hợp thể lực của con.

>>Có thể bạn quan tâm

Posted By Hà Oanh16:42

Dấu hiệu cảnh báo viêm màng não ở trẻ em

Filled under:

Hiện nay, bệnh viêm màng não ở trẻ em không còn hiếm gặp. Nếu không kịp thời phát hiện những dấu hiệu để điều trị, viêm màng não trẻ em có thể để lại nhiều di chứng, nặng có thể gây ra tử vong.

1. Nguồn gốc gây bệnh viêm màng não trẻ em

Có tới 90% những trường hợp viêm màng não trẻ em là do các nguồn gốc sau:
  • Viêm màng não do vi trùng Hib (Haemophilus Influenza týp B)
Bệnh xảy đến chủ yếu ớt ở trẻ không được chủng ngừa. Đây cũng là nguyên nhân chính gây cho bệnh viêm màng não mủ ở bé trong khoảng từ 1 – 3 tuổi.

Bệnh viêm màng não trẻ nhỏ do vi trùng Hib chủ yếu lây lan từ người thanh lịch người thông qua đường hô hấp.

Khi mắc bệnh, thời kì ủ bệnh thường dưới 10 ngày. Bệnh có tỷ lệ tử vong tương đối cao và thường xảy ra trong những ngày cơ bản.
  • Viêm màng não do phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae)
Đây cũng là nguồn gốc chính làm cho các bệnh viêm phổi, viêm huyết, viêm màng não. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), viêm màng não do phế cầu khuẩn chính là nguồn gốc gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.

hiện nay, việc trị bệnh viêm màng não trẻ em do phế cầu khuẩn làm cho ngày càng vất vả bởi việc sử dụng kháng sinh không còn hiệu quả.
  • Viêm màng não mô cầu (Neisseria meningitides)
Viêm màng não mô cầu có khả năng tạo ra nhiều bệnh khác nhau (phối hợp hoặc riêng rẽ) tại nhiều cơ quan trong thân thể người như hệ thần kinh, mắt, đường hô hấp, màng tim, máu, khớp, đường tiết niệu và sinh dục. Tuy vậy, hai bệnh thường gặp và quan trọng hơn là viêm màng não mủ và nhiễm trùng huyết. Trong đó, viêm  huyết tối cấp là nguyên nhân gây tử vong kịp thời, mặc dù bệnh đã được chữa trị tích cực.

Viêm màng não trẻ nhỏ do mô cầu là bệnh lan nhiễm qua đường hô hấp. Thời kì ủ bệnh trong khoảng từ 1 - 10 ngày. Bệnh thường khởi phát đột ngột, với những dấu hiệu tương tự bệnh cảm cúm như: nhức đầu, ho, đau họng, căng thẳng,, ... Tiếp theo, bệnh nhân sẽ bị sốt cao, khoảng 39 – 40 độ C, nhức đầu, buồn nôn trớ và trớ, thân thể thấy ớn lạnh và rét run, đau khớp, đau cơ, đặc biệt là đau ở vùng sống lưng và hai chân. Bệnh nhân bị tụt huyết áp, mạch đập nhanh, có thể bị sốc (hiếm khi xảy ra). Một trong các dấu hiệu tiêu biểu của viêm màng não mô cầu là xuất huyết ban, chủ yếu ớt ở các vùng nách, hông, quanh những khớp khuỷu, gối, cổ chân. Ban có dạng giống như các nốt phỏng, lan rộng, thường có mặt trong vòng 1 - 2 ngày sau khi sốt.

Bài viết liên quan: Cách điều trị viêm da liên cầu ở trẻ sơ sinh


Viêm màng não trẻ nhỏ là một bệnh hậu quả

2. Triệu chứng cảnh báo viêm màng não trẻ em

Để nhìn thấy bệnh viêm màng não, ngay khi bé bị sốt bố mẹ hoặc người chăm sóc nên chú ý những dấu hiệu cảnh báo bệnh.

Sốt, biếng ăn, bú tránh, hệ không kiên định tiêu hóa gây tiêu chảy hoặc trớ, ho, chảy nước mũi... Là các triệu chứng đầu tiên của viêm màng não trẻ nhỏ. Những dấu hiệu này rất dễ nhầm lẫn với các bệnh liên quan đến viêm đường hô hấp thông thường, hay sốt do siêu vi, ... Vì vậy, nên liên tục theo dõi nhiệt độ thân thể của trẻ. Nếu thấy trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì phụ huynh nên lau mát cơ thể trẻ và cho bé uống thuốc hạ sốt theo đúng khuyến cáo liều lượng và cân nặng.

Những dấu hiệu cảnh báo viêm màng não trẻ em mà bố mẹ nên theo dõi sát tình trạng của bé như:

Co giật: toàn thân hoặc có thể ở tay, chân, mắt, miệng. Một vài tình trạng trẻ có khả năng bị co giật đơn giản do sốt cao, nhưng cũng có thể do xáo trộn điện tiểu. Dù thế hiện tượng nào cũng cần buộc phải theo dõi xem trẻ có bị viêm màng não không.

Rối loạn ý thức: ban đầu bé sẽ dễ bị kích động, sau đó bé có khả năng rơi vào tình trạng lờ đờ, ngủ li bì, hôn mê.

Bé có biểu hiện đau đầu, nôn trớ, liệt mặt, liệt hoặc hạn chế chuyển động ở tay, chân, hoặc nửa người.

Lưu ý, biểu hiện viêm màng não trẻ sơ sinh cơ bản thường không rõ ràng và rất khó phân biệt với những bệnh viêm khác, trẻ có thể bị sốt hoặc không và có kèm theo một trong những triệu chứng trên.

Sốt là một trong các biểu hiện sơ khai của viêm màng não trẻ nhỏ


3. Nếu thấy triệu chứng viêm nhiễm màng não trẻ em nên làm gì?

Khi thấy trẻ có những biểu hiện cảnh báo trên, bố mẹ hoặc người chăm sóc bé nên lập tức đưa trẻ đến bệnh viện gần nhất để được khám, làm những xét nghiệm nhận dạng chính xác và chữa bệnh kịp thời.

Lưu ý, Tốt nhất không tự ý dùng thuốc nếu không có khuyên tôi và khuyến cáo của thầy thuốc, hoặc cho trẻ uống những loại lá. Nếu trì hoãn và chậm trễ đưa bé đến bệnh viện có thể gây nguy hại đến tính mạng của bé và làm tăng nguy cơ để lại nhiều biến chứng về thần kinh do bệnh được điều trị muộn.

Bệnh viêm màng não trẻ em có thể được phòng tránh bằng cách tiêm chủng vaccine. Tại Việt Nam hiện đều có vaccine ngừa phòng bệnh viêm màng não do vi khuẩn Hib, phế cầu khuẩn và mô cầu những nhóm. Các bậc bố mẹ nên lưu ý theo dõi và lưu lại việc chủng ngừa của bé để đảm bảo trẻ được tiêm ngừa đúng lịch và đầy đủ.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh16:13

Cách xử lý kịp thời trẻ bị động kinh

Filled under:

Bệnh động kinh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển về trí tuệ và sức khỏe của trẻ. Nếu không sớm phát hiện và điều trị bệnh kịp thời, trí tuệ sẽ ngừng phát triển, trẻ trở nên ngây dại và thường xuyên lên cơn co giật.

Bệnh động kinh ở trẻ nhỏ là gì? Có tổn thương không?

Động kinh là tình trạng não bộ bị hậu quả, đặc biệt bằng sự lặp lại những phóng lực kịch phát thành nhịp của tế bào não biểu hiện ra ngoài bằng các cơ co giật, kèm theo biểu hiện mất ý thức trong một khoảng thời gian ngắn hoặc thay đổi về trạng thái tri giác.

ví thử tiêu biểu về bệnh động kinh ở trẻ em là bé Trần.T.U, 2 tháng tuổi có biểu hiện tay bắt chéo trước ngực, đang nằm nhấc đầu khỏi gối, chân ở tư thế gấp. Những chuỗi hành động này diễn ra ngắn khoảng 2 – 3 giây, đi kèm với trường hợp da xanh, tím tái.

Gia đình cứ nghĩ cháu bị giật mình khi ngủ. Dù vậy, khi thấy cháu bị co gập người thành từng đợt và số lượng tăng dần, cha mẹ mới mở màn lo ngại và đưa trẻ đi khám. Chuyên gia chuyên khoa dự đoán, trẻ bị động kinh xếp vào loại động kinh toàn thể thứ phát và cần trị bệnh gấp.


Động kinh ở trẻ nhỏ là căn bệnh tác hại nên điều trị nhanh chóng

Các bác sỹ chuyên khoa nhấn mạnh, bệnh động kinh có thể gặp ở toàn bộ lứa tuổi và phổ biến nhất ở nhóm trẻ sơ sinh. Trẻ bị động kinh, đặc thù là trẻ sơ sinh có khả năng đối mặt với nhiều chuyển biến nguy hiểm cả về thể trạng lẫn tinh thần. Cụ thể:

Về vấn đề hoạt động
  • Bé bị xáo trộn giấc ngủ gây chán ăn, quấy khóc
  • Gặp tổn hại khi cơn động khi phát tác khi vận động dẫn đến ngã, tai vạ
  • vất vả khi tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt mỗi ngày
Về chuyển động cảm giác
  • Chậm gia tăng chuyển động so với bé đồng trang lứa
  • Mất điều phối chuyển động bình thường
  • Bị dị tật như sụp mí, mắt lác, rung giật giãn cầu
Về vấn đề nhận thức
  • Gặp khó khăn về vấn đề đọc, viết, tính toán
  • giảm trình độ tập trung, không lưu ý
  • Trí nhớ kém, nghe kém
  • Khả năng xử lý những vấn đề kém
Về tinh thần, xã hội
  • Thường có những cơn cáu giận, bực tức, giận dữ
  • Nhân cách biến đổi hay chi li, thù dai và tìm cách trả thù
  • Tự kích động như đập đầu, lăn đùng ra đất
  • Không thể chủ động hành động của bản thân

Nguyên nhân động kinh ở trẻ em

Theo các bác sỹ xác định, bệnh động kinh ở bé, nhất là trẻ sơ sinh thường do những chi tiết xảy đến trước khi sinh, trong khi sinh hoặc sau khi sinh gây tác hại não ở bé.

+ Yếu tố nguy cơ trước sinh: Mẹ bầu bị chấn thương, nhiễm độc chì nghiêm trọng khi mang thai hoặc hẹp hộp sọ thai nhi…

+ Yếu tố nguy cơ trong khi sinh: trẻ sinh non dưới 37 tuần, cân nặng dưới 2,5kg khi ngạt khi sinh. Can thiệp sản khoa (hút thai, sử dụng kẹp thai) hoặc hạ đường máu sau sinh nghiêm trọng kèm suy hô hấp…

+ Yếu tố nguy cơ sau khi sinh: Bị nhiễm trùng màng não, chảy máu não, nhiễm khuẩn thần kinh, bị chấn thương sọ não hoặc bị bệnh chuyển hóa tiến triển…

Tuy nhiên, chỉ khoảng 60% nguyên nhân động kinh được nhận thấy. Nhiều tình trạng, bé bị động kinh nhưng không phát hiện được nguyên nhân gây động kinh, dẫn tới việc chữa trị vất vả.

Triệu chứng động kinh ở trẻ nhỏ

Ở mỗi cơn động kinh, trẻ lại có triệu chứng dấu hiệu khác nhau:


Biểu hiện bệnh động kinh ở trẻ em cần đặc trưng chú ý


>>Xem thêm: http://benhhamta.com/tre-bi-ham-ta-nguyen-nhan-cac-cap-do-va-cach-cham-soc/

+ Cơn động kinh toàn phần
  • Cơn vắng vẻ ý thức: Bất động, ngắt quãng các sinh hoạt trẻ đang làm, mắt nhìn xa mơ màng, kèm giật nhẹ
  • Cơn giật cơ: Giật cơ ngắn nhanh như tia chớp, đối xứng khiến bé bị ngã đột ngột.
  • Cơn co giật: Đột nhiên co giật 2 bên đối xứng với tốc độ chậm dần, thời gian dao động khác nhau, kèm sốt cao
  • Cơn tăng trương lực: Cơn co không kèm rung cơ, dao động từ vài giây đến 1 phút, kèm lộn xộn ý thức.
  • Cơn mất trương lực: Mất hoặc giảm trương lực, gây gập người hoặc gấp đầu về trước, thậm chí là ngã ra đất.
  • Cơn co cứng – co giật: Mất ý thức, co cứng cơ, dễ đốt bắt buộc lưỡi hoặc ngưng thở đột ngột.
  • Cơn động kinh cục bộ
+ Cơn động kinh cục bộ đơn giản
  • Cơn cục bộ đơn thuần vận động: Co giật ở ngón chân, ngón tay, nửa mặt, đau đầu, mất phát âm và không nói được.
  • Cơn cục bộ đơn giản giác quan, cảm giác: thân thể có cảm giác như bị kiến bò, kim châm, có thể bị ảo giác, bị ù tai.
  • Cơn cục bộ đơn thuần với dấu hiệu thực vật: Tăng tiết nước bọt, nuốt, nhai và cảm thấy buồn trớ, bị xung huyết, khó thở.
  • Cơn cục bộ đơn thuần với dấu hiệu tâm thần: Mất dần trình độ nói, nói ngọng, luôn có cảm giác lo lắng, lo âu…
+ Cơn động kinh cục bộ phức tạp: 


Trẻ mất ý thức ngay từ đầu, kèm theo cử động miệng (liếm láp, nhai, ngoạm…), tay tự động cọ sát, gãi hay cầm một vật gì đó và nói linh tinh.

Bệnh động kinh ở trẻ có chữa được không? Hướng trị bệnh như thế nào?

Xấp xỉ 70% trẻ bị động kinh có khả năng khỏi bệnh với chất lượng đời sống như bình thường. Quy định trị bệnh ngay sau khi phát hiện bệnh ở bé là bệnh trị bệnh bằng thuốc kháng động kinh, phối hợp với phục hồi chức năng.

Mục tiêu can thiệp là kích thích sự tăng sinh chuyển động ở trẻ, bổ túc kỹ năng hoạt động thường xuyên và kích thích kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ để trẻ phát triển trí tuệ như bình thường.

Chữa động kinh bằng phương pháp dân gian

Dân gian xưa lưu truyền nhiều cách chữa bệnh động kinh từ thiên nhiên như cây đinh lăng, vỏ bưởi, kỳ đà hay quả phật thủ… Theo đó, nếu sử dụng đúng cách, các cách chữa này có khả năng hỗ trợ trị bệnh bệnh động kinh ở bé, phòng ngừa cơn co giật lộ diện hữu hiệu.
  • Chữa động kinh ở trẻ nhỏ bằng vỏ bưởi được dân gian ưa áp dụng vì lành tính
Điểm mạnh của cách chữa này là an toàn, lành tính và để dành. Hạn chế là chỉ có tác dụng hỗ trợ chữa trị trong cấp độ ngắn và nên kiên trì dùng mới phát huy hiệu quả chữa.
  • Chữa bệnh động kinh bằng Tây y với thuốc kháng động kinh
Một vài loại thuốc Tây y có tác dụng điều trị động kinh là Depakine, Tegretol, Gardenen, Diazepam, Sodanton… những loại thuốc này có tác dụng hạn chế nhanh dấu hiệu động kinh, nhưng chỉ sử dụng khi có đề nghị của bác sĩ và liều lượng thuốc buộc phải do thầy thuốc chỉ định. Nhất định không được tự động cho trẻ dừng thuốc đột ngột.
  • Chữa động kinh bằng thuốc Đông y
Bệnh động kinh theo đông y gọi là bệnh Giản, thuộc bệnh của thần khí, xảy đến đột ngột. Đông y chữa động kinh bằng cách kết hợp thảo dược tự nhiên, đi đôi với châm cứu vớt bấm huyệt nhằm tư bổ can thận, an thần, hóa đàm.

Các loại thảo dược có tác dụng trị bệnh bệnh động kinh: Thiên ma, xuyên bối mẫu, viễn chí, thần sa, đan sâm, mạch môn…
các huyệt châm cứu: Can du, tâm du, nội quan, thần môn, túc tam lý…
điều trị đông kinh ở trẻ em bằng đông y lành tính, giúp tiêu diệt bệnh từ gốc tới ngọn

Điều trị bệnh động kinh bằng đông y giúp chữa bệnh từ gốc tới ngọn, lành tính, nhưng nên mức độ phục hồi suốt khoảng thời gian dài.

5 thắc mắc thường gặp của cha mẹ khi có con bị động kinh?

Sau đây là top 5 băn khoăn phổ biến nhất về bệnh động kinh ở bé nhỏ:

1. Bệnh động kinh có bắt buộc do ma quỷ, nợ tiền kiếp trước không?

Nhiều người mê tín nghĩ rằng, bệnh động kinh ở bé do bị ma quỷ nhập. Do đó, bố mẹ nên phải cúng bái để giúp trẻ khỏi bệnh. Thực tế, đến nay, chưa tìm thấy nguồn gốc động kinh do tâm linh. Cách chữa động kinh đều được đề phòng bằng những thuốc chống động kinh. Việc cúng bái không có tác dụng chữa động kinh.

2. Trẻ bị động kinh có nên đi học không?

Trẻ bị động kinh cần được đi học để hòa nhập với cộng đồng, từ đó giúp trí tuệ của bé tăng sinh. Dù vậy, phụ huynh nên lưu ý:


Bé bị động kinh vẫn có khả năng đi học như bình thường


  • Không đặt các mục tiêu vượt quá năng lực của con
  • Hỗ trợ bé chấp hành các hoạt động thay vì làm thay
  • Động viên con kịp thời, làm cho con tăng sinh niềm tin
  • Chế độ học thích hợp, không quá stress áp lực
  • Thông báo cho nhà trường biết bé có bệnh động kinh
  • hiệp thương với y tế trường về các loại thuốc trẻ đang áp dụng
3. Bệnh động kinh có lan truyền hoặc di truyền không?

Bệnh động kinh không lây, nhưng vẫn có khi di truyền. Tuy vậy, không buộc phải toàn bộ tình trạng bị động kinh đều có tính di truyền. Tỷ lệ di truyền còn phụ thuộc vào việc bố, mẹ hay cả bố và mẹ cùng bị động kinh.

4. Bé bị động kinh, sau này lớn có khả năng xây dựng gia đình và sinh nở không?

Trẻ bị động kinh vẫn có khả năng xây dựng gia đình. Một vài trường hợp bị động kinh dẫn tới chậm tăng sinh trí tuệ không nên có con cái. Về vấn đề sinh nở, bệnh nhân cần tới những trung tâm y tế chuyên khoa để được cung cấp thêm thông tin và tiến hành kiểm tra đặc hiệu để từ đó dự đoán chính xác nhất.

5. Cần xử lý cơn động kinh ở bé ra sao cho đúng cách?
  • Đặt trẻ ở nơi dùng biện pháp an toàn
  • Đặt trẻ nằm nghiêng đầu để giảm thiểu nuốt bắt buộc đờm dãi
  • Không giữ chân tay trẻ khi bị co giật
  • Nới lỏng trang phục cho trẻ
  • Tất cả đồ vật kế bên trẻ
  • Hạn chế đông người ở xung quanh trẻ
  • Hãy để bé ngủ sau cơn co giật
  • Chỉ cho bé uống thuốc khi bị đau đầu
  • Xử lý đúng cách khi bé bị động kinh giúp bé hạn chế hậu quả
Các chuyên gia chuyên khoa y tế nhận định, để kết luận một người sắp lên cơn động kinh hay không là rất khó. Bởi vì, đặc điểm của cơn động kinh mang yếu tố bất ngờ. Do vậy, cha mẹ hãy luôn lắng nghe và theo sát bé để kịp thời xử lý.Trên đây là các thông tin câu trả lời về vấn đề bệnh động kinh ở bé và trẻ sơ sinh. Động kinh là bệnh lý có hại, nhưng vẫn có thể chữa trị khỏi khỏi hẳn. Hy vọng cha mẹ và người thân có khả năng đồng hành cùng trẻ chiến thắng căn bệnh tác hại này. Chúc trẻ luôn mạnh khỏe!

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh15:50