Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

Khi nào cần tiêm vắc xin quai bị ?

Filled under:

Tiêm vắc xin quai bị là cần phải có đối với mỗi người. Bởi căn bệnh này gây ra các biến chứng với tỷ lệ tương đối thấp nhưng lại rất nguy hiểm, không chỉ ảnh hưởng đến tài năng sinh sản mà còn có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Vì thế việc tiêm vắc xin quai bị đặc thù quan trọng đối với mỗi người.

1. Vì sao chúng ta lại phải tiêm vắc xin quai bị?

Hiện nay ở những bệnh viện và những phòng khám đã có vắc xin quai bị, nhưng không buộc phải ai cũng tiêm được vắc xin này. Ngoài ra cũng có những đối tượng được các bác sỹ khuyến khích tiêm phòng tiêm vắc xin cũng như có những đối tượng Tuyệt đối được các bác sĩ chuyên khoa khuyến khích tiêm phòng.

Vắc xin có thể giúp chúng ta ngừa phòng an toàn trước bệnh quai bị. Để đạt được hiệu quả phòng bệnh tối ưu đòi hỏi chúng ta buộc phải tuân thủ tiêm chủng 2 liều. Liều đầu được khuyến khích chuyên dụng cho bé từ 12 đến 18 tháng tuổi. Liều thứ 2 thường sẽ được dùng vào tầm từ 4 tới 6 tuổi. Hiện tại, vắc xin quai bị đã được nhiều bộ phận y tế trên thế giới đưa vào dùng là loại vắc xin phối hợp với vắc xin sởi và rubella trong cùng một chế phẩm vắc xin khác như vắc xin sởi và rubella.

Quai bị được cho là bệnh nhiễm trùng tuyến nước bọt mang tai do loại virus ARN gây nên ở con người. Theo thống kê, trẻ em trong độ tuổi từ 5 - 9 tuổi là đối tượng dễ mắc quai bị nhất.


Cho trẻ tiêm phòng đúng lịch và đủ mũi

Quai bị còn được coi là một loại bệnh lan truyền, khi một người bị quai bị ho hoặc hắt hơi cũng có khả năng làm cho siêu vi bay ra và lây lan cho những người khác theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Có thể là chưa có nhiều tình trạng bị biến tướng bởi quai bị, nhưng quai bị lại gây ra các di chứng nặng như là khó có con ở nam, nhiễm trùng não, viêm màng não, suy giảm thính lực. Chính Do vậy, vắc xin phòng quai bị đã được các tổ chức Y tế trên thế giới và đặc biệt là WHO chỉ dẫn đưa vào trong chương trình tiêm chủng. Cũng như Rubella, có những người chưa có miễn dịch với bệnh, một khi bị nhiễm vi khuẩn quai bị có khả năng để lại một kết quả nặng với các chuyển biến không lường trước.

Ngày nay, việc tiêm vắc xin quai bị đã và đang được đưa vào chương trình tiêm chủng cho trẻ nhỏ. Ở nhiều nước trên thế giới, vắc xin này đã được kết hợp với các loại vắc xin khác như sởi - rubella và được viết tắt là MMR. Loại vắc xin này có chứa loại siêu vi sống nhưng đã bị suy yếu ớt để không thể gây bệnh thật sự trong cơ thể con người.

2. Khi nào thì tiêm vắc xin quai bị là phù hợp?

Vắc xin phối hợp sởi, quai bị, rubella được tiêm theo liệu trình như sau:

Đối với người lớn thì chỉ nên tiêm một liều 0.5 ml phía trên bắp tay

Đối với trẻ em thì liều thứ nhất sẽ tiêm khi trẻ 12 - 18 tháng tuổi, liều thứ 2 được tiêm khi trẻ trong khoảng từ 4 - 6 tuổi hoặc trước khi trẻ đi học. 2 Liều này buộc phải tiêm cách nhau tối thiểu là 1 tháng.

Kế bên phản ứng thông thường như sưng, đau tại vị trí tiêm, khi chấp hành tiêm vắc xin quai bị cũng sẽ có một số tác dụng phụ ít gặp như là :
  • Phát ban nhẹ trên bề mặt da
  • Viêm họng
  • Sốt
  • Nổi hạch
  • Viêm nhiễm, đau khớp trên thân thể

Sau khi tiêm vắc xin, bé có thể bị sốt

3. Nên chú ý điều gì khi tiêm vắc xin quai bị?

Khi tiêm vắc xin, những thầy thuốc cũng có những lưu ý dành cho bệnh nhân trước khi tiến hành tiêm. Cụ thể như sau :

- Tình trạng mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của vắc-xin, kể cả các thành phần tá dược.

Phụ nữ sau khi tiêm vắc xin phòng quai bị thì tránh có thai trong vòng 3 tháng kể từ ngày tiêm

Đối với nữ giới đang thai phụ hoặc đang cho con bú thì nên có sự cho phép của thầy thuốc chứ không được tự ý đi tiêm vắc xin.

4. Tiêm vắc xin quai bị rồi thì có khả năng bị nữa không ?

Do vắc xin phòng quai bị đã được kết hợp với những vắc xin khác cần hữu hiệu bảo vệ cơ thể chỉ còn rơi vào khoảng 90 - 95%. Mặc Tuy nhiên, đối tượng mắc trĩ khi bị sẽ nhẹ hơn và giai đoạn bị bệnh sẽ ngắn hơn bình thường nếu đã được tiêm vắc xin phòng quai bị do ở bên trong cơ thể khi tiêm vắc xin đã tạo sẵn các kháng thể để phòng bệnh.

Có nghĩa là khi được tiêm phòng, hệ miễn dịch cơ thể của chúng ta đã có thể nhận biết được siêu vi quai bị là một vật thể lạ, chính Bởi vậy sẽ tạo nên kháng thể để toàn diện chúng. Khi mà thực sự bị quai bị. Hệ miễn dịch của thân thể chúng ta đã được chuẩn bị sẵn sàng để phòng chống lại những Nguyên nhân gây bệnh quai bị một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, hệ miễn dịch của mỗi con người có đáp ứng được với vắc xin phòng quai bị hay không còn phụ thuộc vào nhiều khía cạnh như là: độ tuổi tiêm, loại vắc xin đã tiêm hay hiện tượng thể trạng của mỗi người thực hiện tiêm, chất lượng vắc xin, cơ sở vật chất cũng như chấp hành quy trình tiêm chủng của nhân viên y tế,…


Vắc xin giúp phòng bệnh quai bị hữu hiệu

5. Tiêm vắc xin quai bị ở đâu là dùng biện pháp bảo vệ ?

Để tuân thủ tiêm vắc xin, chúng ta có thể tới các phòng khám hay những phòng khám lớn, nhưng quan trọng nhất là cần bắt buộc lựa chọn các bệnh viện đảm bảo uy tín, chất lượng. Tại phòng khám Đa khoa MEDLATEC trước khi thực hiện tiêm vắc xin quai bị, bạn sẽ được tiến hành khám sàng lọc để đảm bảo được sức đề kháng Tốt nhất khi tiêm phòng.

Vắc xin quai bị là một mũi tiêm hết sức nhu yếu cho trẻ em và cho chính chúng ta. Vì quai bị có thể làm cho những chuyển biến rất tác hại và tổn thương tới sức khỏe của con người, chính Vì vậy các bậc phụ huynh cần nâng cao những biện pháp phòng bệnh cho trẻ đặc biệt là tuân thủ tiêm chủng vắc xin ngay từ đầu để đề phòng những nguy cơ nhiễm bệnh. Thay vì đợi tới khi mắc bệnh mới đi chữa thì hãy tuân thủ những chương trình tiêm phòng ngay từ đầu để phòng tránh những nguy cơ nhiễm bệnh.

Ngoài ra, lựa chọn cơ sở y tế uy tín cũng là một bước quan trọng trong quá trình bảo vệ sức khỏe cho chính mình và người thân. Hãy sáng suốt trong lựa chọn để có được một sức đề kháng Tuyệt đối.

>>Có thể bạn chưa biết:

Posted By Hà Oanh08:34

Thoát vị bẹn ở trẻ và những dấu hiệu không thể bỏ qua

Filled under:

Thoát vị bẹn ở trẻ nhỏ là bệnh lý bẩm sinh gây nguy hiểm đến sự phát triển của trẻ. Nếu không được phát hiện và điều trị nhanh chóng có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.


Bệnh thoát vị bẹn ở bé. Ảnh minh họa.


Không được bỏ qua những dấu hiệu

Ngay từ khi nam giới ra đời, chị L.Linh (Trương Định, Hà Nội) phát hiện phần vùng kín của con khá nhỉnh hơn các bé khác. Chị tâm sự với chồng đều bị gạt đi vì "trẻ con nào chẳng vậy, lớn rồi là trông nó lại cân xứng với người hết".

Nhìn con vẫn khỏe mạnh, tăng cân bình thường, chị lại bỏ qua và không tâm lý gì nhiều.

Thế nhưng, sau một đợt ho nghiêm trọng, trẻ mở màn có các biểu hiện bất thường. Thời gian đầu chỉ là khối sa bìu nhỏ thường lộ diện to hơn khi bé ho, khóc, hay rặn khi đi đi cầu tiêu.

Chính vì điều này, cần gia đình không lưu tâm không cho bé thăm khám sớm. Đến khi trẻ cảm thấy đau tức thường xuyên, chướng bụng, nôn, không đi ngoài được, gia đình mới hốt hoảng đưa con đi cấp cứu vãn. Thầy thuốc nhận ra rằng thoát vị bẹn bị nghẹt và cần buộc phải mổ gấp.

Các triệu chứng nhận biết thoát vị bẹn

Thoát vị bẹn biểu hiện bằng một khối phồng (khối thoát vị) tại vùng bẹn bìu ở trẻ trai và tại vùng bẹn môi lớn của trẻ gái. Khối phồng này thường có mặt to hơn khi bé ho, khóc, rặn khi đi đi cầu tiêu hay sau những di chuyển mạnh như chạy nhảy, tập thể dục...

Lúc bé nghỉ ngơi hay nằm thì khối thoát vị có thể tự chui vào ổ bụng trở lại, khối phồng xẹp đi, vùng bẹn của trẻ trở lại như bình thường. Khối phồng tại vùng bẹn không xẹp lại như toàn bộ khi mà căng cứng, sờ vào gây đau, da trên khối phồng có thể đổi màu, thân nhiệt tăng và biểu hiện tắc ruột trở nên rõ rệt.


Khi bị bệnh trẻ nhỏ thường bỏ bú, trớ, quấy khóc, bé lớn thì kêu đau vùng bẹn.


Các biến chứng nguy hiểm

Thoát vị bẹn ở trẻ em, nhất là thoát vị bẹn ở trẻ sơ sinh có thể tác hại lớn đến sự tăng sinh của trẻ và làm cho các di chứng hậu quả nếu không được phát hiện và chữa trị nhanh chóng. Một vài di chứng thường gặp của bệnh như:
  • Rối loạn tiêu hóa, bé chậm lớn
  • Đe dọa đến tinh hoàn ở trẻ trai: xoắn tinh hoàn, teo tinh hoàn, nghẹt bó mạch thừng tinh gây hoại tử tinh hoàn, nghẹt ống dẫn tinh gây vô sinh
  • Nghẹt hoại tử ruột do ruột hoặc mạc treo ruột không chui về ổ bụng được .
Giải đáp về bệnh lý này, Ths, BS Đinh Hữu Việt, cơ sở y tế Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết: thời gian phát hiện bệnh có khả năng là ngay sau sinh nhất là ở bé sinh non tháng hoặc có thể sau sinh vài tháng do sau một đợt bé ho nhiều hoặc rặn nhiều.

Thoát vị bẹn không phải là một bệnh cấp cứu giúp, Tuy thế, nếu sau một tuổi không thấy tự khỏi nên cho trẻ đi khám.

Chuyên gia chuyên khoa cũng cảnh báo thêm, ở bất kỳ độ tuổi nào khi thấy có dấu hiệu đau, khối thoát vị không đẩy lên được nên phải đi khám vì rất có khả năng đấy là dấu hiệu nghẹt nên can thiệp tức thì để tránh hoại tử ruột, hoại tử các tạng.


Thoát vị bẹn có khả năng gây xoắn tinh hoàn



Ngoài ra, thoát vị bẹn cũng là một trong các khía cạnh cơ hội gây xoắn tinh hoàn, teo tinh hoàn, nghẹt bó mạch thừng tinh gây hoại tử tinh hoàn, nghẹt ống dẫn tinh gây khó có con.

Tỷ lệ gặp thoát vị bẹn ở trẻ khoảng từ 0,8 – 4,4%, có nghĩa là cứ 1000 trẻ em thì có từ 8 đến 44 trẻ bị mắc bệnh này. Ở trẻ sinh non tần suất lên đển 30% tùy theo tuổi thai.

Bệnh xảy ra ở cả hai giới nhưng bé nam có tỷ lệ bệnh cao hơn trẻ nữ 5-10 lần.

Thoát vị bẹn ở bé là bệnh lý bẩm sinh do có mặt một ống thông nhỏ từ phần ổ bụng xuống dưới vùng bẹn khiến cho dịch ổ bụng hoặc ruột chạy xuống, tạo thành khối phồng to ở bẹn.

Thông thường, ở những tháng cuối của thai kỳ hoặc vài tháng đầu sau sinh, ống phúc tinh mạc của bé sẽ tự đóng lại. Tình trạng ống phúc tinh mạc không đóng, sẽ gây cho thoát vị bẹn ở trẻ.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh08:24

Viêm da cơ địa là bệnh mãn tính ?

Filled under:

Viêm da cơ địa thường tái đi tái lại nhiều lần. Đây là bệnh viêm da mãn tính có thể gặp ở toàn bộ lứa tuổi và bất cứ mùa nào trong năm. Tuy vậy nếu được chữa trị đúng cách thì bạn khỏi hẳn có thể chủ động sự tái phát.

Viêm da cơ địa là gì?

Viêm da cơ địa còn được gọi là chàm thể tạng, là một loại viêm da gây ngứa, đỏ, sưng và làm nứt da. Các vùng da mắc bệnh thì dày lên theo thời gian và chúng có khả năng sản xuất ra những chất lỏng.

Viêm da cơ địa phổ biến ở trẻ em nhưng vẫn có khả năng diễn ra ra ở mọi lứa tuổi. Đây là một bệnh mãn tính và có xu hướng bùng phát thường ngày.

Nguyên nhân gây viêm da cơ địa

Đến nay vẫn chưa kết luận rõ ràng nguồn gốc gây viêm da cơ địa, nhưng người ta nghĩ rằng bệnh có liên quan đến gen và những chi tiết môi trường.

1. Yếu tố môi trường

Ô nhiễm môi trường.

Các yếu tố có trong nhà như bụi, lông súc vật, quần áo, đồ dùng gia đình,…

2. Yếu tố di truyền

Bệnh viêm da cơ địa chưa được xác định rõ rệt do gen nào đảm nhiệm. Khoảng 60% người lớn bị viêm da cơ địa có con mắc bệnh này, nếu cả bố và mẹ cùng mắc bệnh thì con sinh ra có đến 80% bị bệnh.

Viêm da cơ địa thường gây ngứa nhiều (Nguồn: Internet)


Dấu hiệu của viêm da dị ứng

Dấu hiệu của viêm da cơ địa rất đa dạng, triệu chứng có thể khác nhau tùy theo lứa tuổi.

1. Viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh (trẻ em ở mức độ đầu đời)

Bệnh nhận ra sớm khoảng 3 tuần sau sinh, thường cấp tính với các đám đỏ da, ngứa, sau đó có mặt nhiều mụn nước nông, dễ vỡ, xuất tiết và đóng vảy tiết, có thể bội nhiễm, hạch lân cận sưng to.

Vị trí hay gặp nhất là 2 má, có khả năng ở da đầu, trán, cổ, thân mình, mặt dưới chi. Khi trẻ biết bò có thể có mặt nguy hại ở đầu gối.

Bệnh có khả năng quay lại, bé rất nhạy cảm với các yếu tố như viêm, mọc răng, tiêm chủng, sửa đổi khí hậu hay môi trường sống.

Hầu hết bệnh viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh sẽ tự khỏi khi bé được 18 – 24 tháng.

2. Viêm da cơ địa ở trẻ em

Bệnh thường từ viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh chuyển sang. Với những có hại là các sẩn đỏ, vết trợt, da dày, mụn nước khu trú hay lan tỏa cấp tính kèm theo viêm thứ phát.

Vị trí hay gặp là ở khóe, nếp gấp khuỷu tay, mi mắt, hai bên cổ, cẳng tay, ở cổ có sạm dạng lưới, ít khi lộ diện ở mặt dưới các chi.

Bệnh thường trở nên cấp tính khi bé tiếp xúc với lông súc vật, gia cầm, đồ len,…

Khoảng 50% bé sẽ khỏi bệnh khi trẻ được 10 tuổi.

3. Viêm da cơ địa ở thanh thanh niên và người lớn



Biểu hiện là mụn nước, sẩn đỏ dẹt, có vùng da mỏng trên mảng da dày, ngứa.

  • Vị trí hay gặp là nếp gấp khuỷu, khoeo, cổ, rốn, vùng da quanh mắt đối với bé trai. Khi bệnh lan tỏa thì vùng nặng nhất là các nếp gấp.
  • Viêm da lòng bàn tay, chân, gặp ở 20 – 80% người mắc trĩ.
  • Viêm da quanh mi mắt, chàm ở vú.
  • Bệnh ảnh hưởng nhiều bởi những dị nguyên, môi trường, tâm sinh lý người bệnh.
4. Các biểu hiện khác của viêm da cơ địa

  • Khô da do tăng mất nước qua biểu bì.
  • Da cá, dày da lòng bàn tay, bàn chân, dày sừng nang lông, lông mi thưa.
  • Viêm môi bong vảy.
  • Mi mắt dưới có thể có 2 nếp gấp, tăng sắc tố quanh mắt, viêm kết mạc tái nhiễm có thể gây lộn mi, có khả năng có đục thủy tinh thể.

Biến chứng của viêm da cơ địa

Viêm da cơ địa tuy không có hại đến mạng sống nhưng nếu không trị bệnh đúng cách có thể dẫn đến các di chứng sau đây:

+ Hen suyễn và dị ứng phấn hoa: Hơn một nửa số trẻ nhỏ bị viêm da cơ địa cũng bị hen suyễn và dị ứng phấn hoa.

+ Ngứa mãn tính và bong tróc da: các biến chứng của viêm da cơ địa là viêm da thần kinh. Bạn sẽ bị ngứa một vùng da trên thân thể và bắt đầu gãi khu vực này. Khi càng gãi, bạn sẽ càng ngứa hơn và da sẽ bị đổi màu, dày và cứng.

+ Viêm da: Việc gãi liên tục có khả năng làm cho da nguy hại và chảy máu. Các vết thương này làm tăng nguy cơ viêm do vi khuẩn và siêu vi.

+ Viêm da tiếp xúc kích ứng: Bệnh này đặc trưng tác hại tới những người có công việc buộc phải thường ngày tiếp xúc với nước, chất tẩy rửa mạnh hay các chất diệt trừ khuẩn.

+ Viêm da tiếp xúc dị ứng: hiện tượng này thường gặp ở những người bệnh đã bị viêm da cơ địa.

+ Các vấn đề về giấc ngủ: Cảm giác ngứa và muốn gãi liên tục có thể tác hại tới chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Cách chữa viêm da cơ địa

Điều trị viêm da cơ địa nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ và người bệnh, đối với trẻ nhỏ, phụ huynh cần phải tuân theo những khuyến cáo của bác sĩ. Dưới đây là những phác đồ chữa trị viêm da cơ địa:

Đắp ẩm thương tổn và bôi kem corticoid kết hợp với kháng sinh.

Làm ẩm da bằng kem bôi hoặc sữa tắm có kem. Thuốc corticosteroid có hữu hiệu với viêm da cơ địa nhưng có khả năng gây nhiều tác dụng phụ. Vì thế, những thuốc chống viêm khác không phải corticosteroid như tacrolimus, có thể thay thế để tránh những tác dụng phụ, Mặt khác loại thuốc này còn có khả năng chống viêm và chống ngứa.

Uống kháng sinh histamin chống ngứa.

Một số tình trạng nặng có khả năng uống corticoid, nhưng cần có đề nghị chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa.

Những phương pháp điều trị khác như dùng UVA và UVB nhận tạo.

Bôi kem theo khuyên tôi của bác sĩ (Nguồn: Internet)



Kế hoạch chăm sóc khi bị viêm da cơ địa

Các việc làm sau đây có khả năng giúp bệnh nhân trĩ viêm da cơ địa hạn chế được những biến tướng cũng như phòng ngừa viêm da cơ địa tái phát:

Cố gắng không làm trầy xước vùng da bị viêm

Bệnh viêm da cơ địa thường gây ngứa, bởi thế người mắc trĩ sẽ rất dễ làm trầy xước những vùng da khi gãi. Gãi quá mạnh có thể gây chảy máu và làm tăng nguy cơ bị viêm hoặc sẹo. Vì thế, hãy cố gắng không gãi ngứa, bạn có thể thay thế bằng hành động áp dụng đầu ngón tay ấn vào chỗ ngứa để tránh cảm giác khó chịu.

Nếu trẻ nhỏ bị viêm da cơ địa, bố mẹ nên cắt móng tay cho bé để hạn chế da bị trầy xước khi bé gãi.

Giảm các yếu tố tổn hại cho da

Các yếu tố có khả năng làm cho bệnh viêm da cơ địa thêm nặng hơn hoặc tái phát sau chữa trị gồm có mồ hôi, mệt mỏi xà phòng có tính tẩy rửa mạnh, bụi, phấn hoa…Ngoài ra, những thực phẩm như trứng, sữa, hải sản, lúa mì,…cũng có khả năng kích hoạt bệnh viêm da cơ địa. Vì thế, hãy tránh xa những Nguồn gốc mà bạn cho rằng nó là nguồn gốc khiến bạn bị viêm da cơ địa.

Dưỡng ẩm cho da

Hãy bôi kem dưỡng ẩm ít nhất 2 lần/ ngày để giảm thiểu da bị khô. Bạn có thể sử dụng bất kỳ loại kem dưỡng ẩm nào ưa thích với da của mình, nếu nên hãy tham khảo ý kiến từ các bác sĩ chuyên khoa da liễu.

Viêm da cơ địa kiêng ăn gì?

Việc ăn uống có thể hậu quả lớn tới hiện tượng viêm da. Hãy khám phá những thực phẩm nên giảm thiểu sau đây để ngừa phòng và ngừa phòng bệnh viêm da cơ địa hiệu quả.
  • Trứng;
  • Đậu nành;
  • Các sản phẩm từ sữa;
  • Những thực phẩm có chứa gluten;
  • Trà đen;
  • Socola;
  • Thịt đóng hộp;
  • Các loại hải sản có vỏ như ốc, sò, cua…
Nếu biết cách chăm sóc da và ăn uống thích hợp, bạn sẽ không còn bắt buộc gãi mỗi đêm hay trằn trọc khó ngủ. Hãy đến gặp thầy thuốc da liễu để được san sẻ điều trị bệnh viêm da cơ địa đúng cách hơn để bệnh không tiến triển hoặc quay lại nhiều lần.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh08:10

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

Làm gì để con bạn không bị còi xương ?

Filled under:

Bệnh còi xương được xem là nguyên nhân của nhiều bệnh lý nặng khác. Các bậc phụ huynh luôn lo ngại và cố gắng phòng hạn chế để con không mắc phải. Nếu bạn đang sử dụng rộng rãi đến vấn đề này, hãy cùng nghiên cứu san sẻ khía cạnh về căn bệnh còi xương, cách điều trị và phòng tránh bệnh ngay trong bài viết dưới đây.

1. Bệnh còi xương là gì? Nguồn gốc gây nên bệnh còi xương


Bệnh còi xương ở bé nếu không chữa trị nhanh chóng có thể làm cho nhiều hậu quả nghiêm trọng 

Nghe đến bệnh còi xương có lẽ bố mẹ nào cũng luôn lo âu. Vậy bệnh còi xương là gì mà đâu là nguyên nhân chính gây nên trường hợp này. Ngay sau đây hãy cùng chúng tôi lý giải băn khoăn này nhé.

Bệnh còi xương là gì?

Bệnh còi xương là sự rối loạn chuyển hoá các chất trong thân thể làm hậu quả tới hệ xương, chủ yếu ớt do hiện tượng thiếu hụt Vitamin D gây ra. Trẻ thiếu hụt Vitamin D 3 làm cơ thể không thể chuyển hóa Canxi và Photpho, dần dần làm hệ xương suy yếu.

Trẻ bị còi xương thường có các triệu chứng như chậm lớn, không tăng chiều cao trong vài tháng, trẻ bị rụng tóc vành khăn, biết đi chậm, xương yếu ớt, chân tay cong vòng kiềng... Nói chung là gặp những vấn đề chủ yếu ớt ở xương, răng và tóc. Bên cạnh đó, bé còi xương còn có thể bị tác hại tới hệ thần kinh não bộ, vô cùng có hại.

Nguyên nhân tạo nên bệnh còi xương là gì?

Những nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh còi xương ở trẻ em bao gồm:
  • Thiếu hụt Vitamin D trong mức độ dài.
  • Trẻ không được tắm nắng thường xuyên.
  • Cơ thể kém hấp thụ Canxi.
  • Trẻ không được bú mẹ hoặc bé bị sinh non.
  • Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú có chế độ ăn hao hụt Vitamin D làm cho trẻ sinh ra cũng bị thiếu chất và còi xương.
Chất thải tế nhị biệt còi xương và suy chất dinh dưỡng


Mẹ cần phân biệt đúng còi xương và suy dinh dưỡng 

Có nhiều người còn nhầm lẫn, cho rằng còi xương suy dưỡng chất là một. Dù thế, hai bệnh này khỏi hẳn khác nhau.


2. Đối tượng dễ bị bệnh còi xương

Trẻ từ 6 - 36 tháng đang trong thời kì tăng sinh, chưa ổn định. Thời kỳ này, các cơ quan trong cơ thể trẻ chưa thực sự hoàn thiện, Bởi thế trình độ hấp thụ dưỡng chất của bé còn hơi kém. Nếu cấp độ này không được bổ sung đủ những chất, đặc thù là Vitamin D thì khả năng trẻ bị còi xương là rất cao.

Các yếu tố tăng nguy cơ bệnh còi xương:

Da ngăm đen: một số nghiên cứu giúp đã chứng minh những người có da ngăm đen thường khó hấp thụ Vitamin D hơn so với các người có da sáng màu.

Ít tiếp xúc ánh mặt trời: Ánh sáng mặt trời là khía cạnh cần phải có để cơ thể tự tổng hợp Vitamin D tự nhiên. Thông thường, cơ thể hấp thụ 80% Vitamin D từ ánh nắng mặt trời và chỉ hấp thụ 20% Vitamin D từ thực phẩm. Do đó, trẻ em không được tắm nắng thường xuyên có nguy cơ bị còi xương rất cao.

Bữa ăn thiếu hụt Vitamin D: Canxi và Photpho rất nên cho xương, Dù thế nó nên có sự hỗ trợ của Vitamin D mới có thể đi vào thân thể. Hao hụt Vitamin D trong thực đơn chất dinh dưỡng hằng ngày khiến thân thể kém hấp thụ Canxi và Photpho gây bệnh còi xương ở trẻ nhỏ.

Mắc bệnh hoặc áp dụng thuốc, gây bất định chuyển hóa Vitamin D: Đây cũng là một trong số nguyên nhân gây còi xương ở trẻ nhỏ do cơ thể kém hấp thụ Vitamin D đem đến hao hụt Canxi và những chất quan trọng khác.

3. Dấu hiệu của bệnh còi xương


Bệnh còi xương khiến cho bé khó ngủ về đêm 
Trẻ bị còi xương thời kì đầu thường có các biểu hiện như:
  • Khó ngủ về đêm, hay quấy khóc.
  • Đổ nhiều mồ hôi trộm.
  • Nổi nhiều rôm sảy.
  • Bé chậm mọc răng.
  • Có biểu hiện rụng tóc vành khăn.
Với tình trạng mắc bệnh còi xương nặng, bé thường có những biểu hiện rõ hơn như:
  • Chậm biết bò, biết đi.
  • Chân tay kém di chuyển, nhanh uể oải, stress.
  • Chân có dáng vòng kiềng.
  • Xuất hiện các mảng hói lớn trên da đầu của bé.
Trẻ có thể bị một vài dị dạng về xương như thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có những bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê.

Chuỗi hạt sườn, dô ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.

Các trẻ bị còi xương nặng có khả năng gây co giật hạ Canxi máu cấp vô cùng nguy hại.

4. Cách xét nghiệm có bị còi xương hay không?

Để biết được trẻ có bị còi xương hay không, cha mẹ có khả năng theo dõi sự tăng sinh và sửa đổi trên cơ thể của trẻ. Nếu bé có những dấu hiệu rõ như đã nhắc tới ở phía trên thì trình độ trẻ bị còi xương là rất lớn.

Ngoài ra, để xác định chính xác trẻ có bị còi xương hay không, bé có khả năng nên làm những xét nghiệm xét nghiệm để đo nồng độ Canxi, mật độ xương từ đó đưa ra các kết quả dự đoán chính xác nhất. Các bí quyết thường áp dụng trong kiểm tra dự đoán còi xương ở trẻ em là:

+ Khám lâm sàng: Hộp sọ, chân, ngực, cổ tay và mắt cá chân. Khám lâm sàng có khả năng đánh giá được thời gian gia tăng, hình thái bên ngoài của xương và đưa ra chuẩn đoán về.

+ Chụp X-quang xương: Chụp X-quang có khả năng thấy được mật độ xương thực chất trong thân thể, từ đó mà biết được thân thể có bị thiếu xương, loãng xương hay không.

+ Kiểm tra máu để đo những chỉ số Vitamin D, Canxi, Photpho: Nếu các chỉ số này thấp hơn so với mức trung bình thì chứng tỏ trẻ đã bị còi xương.

+ Kiểm tra nước tiểu: Để kết luận Photpho thải ra, từ đó mà đi đến xác định bé có bị còi xương hay không.

5. Bệnh còi xương gây tác hại gì đến thể trạng, cuộc sống?


Bệnh còi xương có thể gây ra tình trạng vẹo cột sống cho bé



Bệnh còi xương gây ra hậu quả khó lường tới sức khỏe và đời sống của trẻ:

Làm cho trẻ bị chậm phát triển. Thiếu hụt Canxi làm cho hệ xương gia tăng kém, làm bé thấp còi hơn so với bạn bè cùng trang lứa. Sự phát triển của não bộ cũng bị chậm lại đáng kể khi trẻ hao hụt Canxi.

Trẻ có thể gặp phải nhiều dị tật về xương, gây tác hại nhiều tới ngoại hình, gặp khó khăn trong việc đi đứng, cử động và sinh hoạt hàng ngày. Những khiếm khuyết nặng về xương còn có khả năng gây ảnh hưởng tới thể lực. Những dị tật này bao gồm:
  • Cong vẹo cột sống thất thường, gù, vẹo cột sống do xương cột sống kém gia tăng, phát triển chậm.
  • Lồng ngực biến dạng, dô ra phía trước
  • Chân tay cong, chân vòng kiềng, chân chữ bát
  • Khung chậu hẹp (ảnh hưởng tới chức năng sinh sản của bé gái)
  • Khiếm khuyết nha khoa
Ngoài ra, sinh hoạt của hệ thần kinh ở bé bị thiếu hụt Canxi cũng có nhiều xáo trộn. Bé có khả năng bị động kinh khi tình trạng còi xương kéo dài. Hệ miễn dịch suy giảm làm cho bé dễ bị bệnh, hay ốm vặt, dễ bị viêm phổi…

6. Cách phòng chống bệnh còi xương

Để phòng chống bệnh còi xương ở trẻ nhỏ, cha mẹ nên thực hiện đầy đủ những điều sau:

+ Bổ sung Vitamin D cho mẹ đang có mang

Trong thời gian có thai, nếu mẹ bị thiếu hụt chất đặc biệt là Vitamin D và Canxi sẽ làm tăng nguy cơ con bị còi xương. Vitamin D vốn có tác dụng hỗ trợ cho quá trình đưa Canxi vào máu và xương, nên nếu thiếu chất này đồng nghĩa với việc cơ thể thiếu hụt Canxi.

Vì vậy, phái nữ thai phụ cần tăng thêm bổ sung Vitamin D bằng việc tắm nắng, ăn các thực phẩm giàu Vitamin D,đồng thời dùng những loại thuốc bổ sung Vitamin D với liều lượng ưa thích.

+ Cho bé bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Sữa mẹ là nguồn chất dinh dưỡng Tuyệt đối cho trẻ nhỏ. Trong sữa mẹ có đầy đủ những nguồn chất dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ như nước, Canxi, Vitamin, Protein cùng các chất dinh dưỡng quan trọng khác.

Theo các thầy thuốc chuyên khoa y tế, trong 6 tháng đầu không cần cung cấp cho trẻ chất khác ngoài sữa mẹ kể cả nước lọc, vì lúc này những cơ quan khác trong thân thể trẻ chưa thực sự hoàn thiện nên chưa thể tổng hợp và chuyển hóa nguồn chất dinh dưỡng khác.

Song song với việc nuôi trẻ bằng sữa mẹ, mẹ cũng nên chú trọng duy trì và nâng cao chất lượng sữa. Người mẹ cần bắt buộc cung cấp đầy đủ Canxi, Vitamin D, DHA, Sắt cùng những dưỡng chất nhu yếu để bổ sung đầy đủ những chất thiết yếu cho bé thông qua sữa mẹ.

+ Không cho bé ăn dặm quá sớm


Nên cho trẻ ăn dặm đúng lúc để giúp bé phòng chống còi xương



Cha mẹ chỉ cần cho con ăn dặm khi trẻ đã bắt đầu bước sang tháng tuổi thứ 7 trở đi. Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, những bộ phận tiêu hoá còn rất yếu, khó có khả năng hấp thu tổng hợp hay chuyển hoá các thực phẩm tới các cơ quan khác trong thân thể. Do đó, ăn dặm quá sớm có thể gây hại cho dạ dày và các bộ phận khác trong cơ thể trẻ.

Việc ăn dặm cho bé cần tăng dần giai đoạn từ ít đến nhiều, từ thức ăn dạng lỏng tới đặc dần và nhớ lưu ý xay hoặc nghiền nhuyễn để bé dễ ăn. Bên cạnh đó, cũng nên lưu ý không ép trẻ ăn vì có khả năng gây suy nghĩ khiến cho bé lo sợ việc ăn đến sau này.

+ Cung cấp Vitamin D, Canxi, Photpho vào bữa ăn thường xuyên

Nhiệm vụ của Canxi và Photpho đặc biệt quan trọng trong sự hình thành xương, giúp xương khớp chắc khỏe. Tuy nhiên, hai chất này đều nên có sự hỗ trợ của Vitamin D để có thể được hấp thụ vào cơ thể một cách Tuyệt đối. Cơ thể trẻ được cung cấp đủ Vitamin D, Canxi, Photpho sẽ khỏe mạnh và phòng tránh những triệu chứng còi xương hữu hiệu.

+ Uống bổ sung Vitamin D, Canxi, MK7

Để bé có đầy đủ các dưỡng chất giúp bé cao lớn khỏe mạnh, phòng giảm thiểu còi xương hiệu quả, bố mẹ nên bổ xung bổ sung cùng lúc bộ ba chất Canxi, Vitamin D và MK7.

Vitamin D giúp hỗ trợ vận chuyển Canxi từ thành ruột vào máu, tránh đào thải Canxi, nhờ đó mà làm tăng hiệu quả hấp thụ Canxi, giúp cơ thể có đủ lượng Canxi cần phải có. Sau khi Canxi đã vào máu, MK7 sẽ giúp vận chuyển Canxi vào đến tận các xương và răng, giúp củng cố kết cấu xương, răng thêm chắc chắn.

MK7 cũng luân chuyển Canxi từ những cơ quan đang thừa Canxi như thành mạch, máu… vào đến xương, giúp cơ thể áp dụng Canxi hoàn toàn hơn. Nếu thân thể bị thiếu hụt một trong hai chất trên, dù có cung cấp nhiều Canxi thì thân thể vẫn không thể hấp thụ trọn vẹn được lượng Canxi cần phải có, và tình trạng còi xương sẽ vẫn xảy ra.

Xem thêm: Uống Vitamin D3 cho trẻ sơ sinh

+ Khi cung cấp Canxi và Vitamin D, bố mẹ nên cung cấp ưng ý theo độ tuổi của bé
  • Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi nên 200mg Canxi/ngày.
  • Trẻ từ 6 tới 11 tháng tuổi nên 260mg Canxi/ngày.
  • Trẻ từ 1 tới 3 tuổi cần 700mg Canxi/ngày.
  • Trẻ từ 4 tới 8 tuổi cần 1000mg Canxi/ngày.
  • Trẻ từ 9 tới 18 tuổi cần 1300mg Canxi/ngày.
  • Trẻ dưới 1 tuổi nên 400 IU Vitamin D/ngày.
  • Trẻ từ 1 đến 18 tuổi nên 600mg -1000 IU Vitamin D/ngày.
Nên cung cấp đủ cho trẻ đủ lượng canxi nhu yếu hằng vì hao hụt canxi ở bé có khả năng gây còi xương trong khi thừa canxi lại gây bệnh về thân.

+ Tắm nắng hàng ngày

cần cho bé tắm nắng thường ngày để bổ xung bổ sung Vitamin D giúp quá trình hấp thụ và chuyển hóa Canxi, Photpho đạt hiệu quả hiệu quả hơn. Lượng Vitamin D hấp thụ được từ ánh nắng chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng Vitamin D thiết yếu, trong khi thân thể chỉ có thể hấp thụ từ 20- 30% Vitamin D từ thực phẩm.

+ Di chuyển mỗi ngày

Việc chuyển động không chỉ giúp bé tăng cường thể trạng mà còn kích thích sự sinh hoạt của não bộ giúp bé thông minh hơn đồng thời còn giúp trẻ thèm ăn và ăn ngon hơn. Những sinh hoạt thể chất nhẹ nhàng và vừa sức bé như bơi lội, chạy bộ, đánh cầu lông sẽ giúp trẻ co giãn xương khớp làm tăng sinh chiều cao rất tốt cho những bé bị còi xương.

+ Đi khám thường kỳ


Cha mẹ nên thường xuyên đưa bé đi khám bệnh thường ngày

Nhu cầu Canxi và các chất nhu yếu cho cơ thể có ảnh hưởng theo cấp độ, độ tuổi cũng như hiện tượng sức khoẻ của trẻ. Nếu thông qua các dấu hiệu thông thường bố mẹ rất khó để xác nhận trẻ dư chất gì, hao hụt chất gì, đang khoẻ mạnh hay mắc bệnh.

Do vậy, Nhất định phụ huynh nên thường ngày đi khám bệnh thường ngày để sớm nhìn thấy ra bệnh đồng thời có các phương pháp phòng giảm thiểu và bổ sung chất cho bé dùng biện pháp an toàn và tốt hơn.

Với các tư vấn trên đây, hy vọng đã giúp bố mẹ có thêm thông tin về bệnh còi xương là gì đồng thời có thêm nhiều phương pháp giúp phòng chống căn bệnh nguy hiểm này hiệu quả.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh17:15

Kinh nghiệm cho bé ăn và 8 sai lầm đa số mẹ mắc phải

Filled under:

Cho bé ăn là công việc không hề dễ dàng đối với những ai lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên ngay cả các bà mẹ đã có kinh nghiệm cũng có thể mắc những sai lầm cơ bản trong việc chăm sóc trẻ. Bài viết về 8 sai lầm khi cho trẻ ăn dưới đây sẽ giúp mẹ chăm sóc trẻ dễ dàng hơn.

Ép con ăn


Ép con ăn là một thói quen tai hại gây hậu quả đến sức khỏe và tâm lý của bé. (Ảnh minh họa)

Đây là thói quen rất thường gặp ở toàn bộ gia đình nuôi con nhỏ. Bản chất trẻ em là ham chơi, con thường không nghiêm túc trong chuyện ăn uống. Đặc thù có các trẻ thuộc diện “kén ăn” khiến cho nhiều ba mẹ đau đầu và khổ sở mỗi lần cho con ăn.

Con không chịu ngồi yên để ăn, chạy nhảy “náo loạn”, nhiều khi con mải chơi đút cũng chẳng chịu ăn, trẻ ăn được một ít, sợ con đói nên mẹ lựa chọn cách ép con ăn.

Các cách ép con ăn mẹ thường hay sử dụng như: “nào có ăn không mẹ đánh đòn bây giờ”, “không ăn nhanh là bố mắng đấy”, “không ăn là mẹ đưa đi gặp chuyên gia chuyên khoa nhé”,… thậm chí khi bé không chịu ăn có nhiều ba mẹ còn đánh mắng hoặc bóp miệng bé để đút cho bé ăn. Điều này là vô cùng tại hại, bởi trẻ phải ăn trong tâm lý lo lắng, căng thẳng sẽ gây ức chế thần kinh cho bé dẫn đến dịch vị của bé không tiết ra để kích thích tiêu hóa và tác động nặng nề đến suy nghĩ của bé. Chiến thuật này sẽ trở nên phản tác dụng bởi cuối cùng con bạn sẽ ghét cả thức ăn và bữa ăn, mỗi lần ăn là một “địa ngục” đối với trẻ.

Thay Vì thế, mẹ đừng “chuyện trẻ xé ra to” khi trẻ từ chối ăn. Mẹ hãy cố kiên nhẫn chờ và khuyên con một cách tích cực hơn, để trẻ dự đoán việc ăn uống giúp bổ xung thể trạng, con sẽ chóng lớn như những bạn, có một thể trạng “siêu nhân” để làm mọi điều mình thích. Có khả năng mẹ buộc phải kiên nhẫn, đợi một thời gian nhưng điều này sẽ tốt cho bé hơn là việc mẹ ép con ăn như trên.

Xem thêm: Cách trị trẻ biếng ăn đơn giản nhất

Nấu ăn theo ý thích của con

Mẹ thường sợ con không ăn, thấy bé ăn món nào được nhiều là vui lắm. Nên thường ưu tiên nấu những mon đó với mong muốn con ăn nhiều, đỡ buộc phải cực khổ hay đau đầu chuyện đút cho trẻ ăn. Điều này đặc trưng được ưu tiên với những bé thuộc diện kén ăn.

Mẹ cũng hiểu được nếu không cho trẻ ăn đa dạng con có thể bị thiếu hụt chất dinh dưỡng, Tuy vậy trước sự nài nỉ của con. Tuy thế việc nấu ăn theo ý thích của con, sẽ truyền tải một thông điệp sai lầm cho bé. Trẻ sẽ chỉ thích những món ăn mà con hãy ăn Vì vậy con không thể bổ sung đa dạng dưỡng chất, sự “yêu chiều” của mẹ trong việc lựa chọn món ăn con thích đã vô hình dung tạo ra sự kén ăn của trẻ.

Thay vào đó mẹ hãy cho trẻ ăn đa dạng nhiều món ăn, hãy kiên nhẫn giải nghĩa ý nghĩa các món ăn cũng cấp các chất dinh dưỡng gì cho sự tăng sinh sức đề kháng và trí tuệ của con. Hãy để con hiểu được lý do gì mình cần phải ăn những thức ăn này.

Cho trẻ ăn quá nhiều và sai thời gian


Cho bé ăn quá nhiều và sai thời điểm là một sai lầm mẹ nên từ bỏ ngay. (Ảnh minh họa)



Các bậc bố mẹ thường cho trẻ ăn khẩu đa số hơn mức nhu yếu hoặc cho bé ăn các món ăn vặt (đặc biệt là cho bé uống nước trái cây) quá sát giai đoạn ăn.

Thay vào đó, hãy áp dụng quy định cho bé ăn từng món thích hợp với độ tuổi của trẻ. Chỉ cần cho bé ăn vặt trước bữa ăn chính khoảng một tiếng rưỡi cho đến hai tiếng.

Lơ là khẩu vị của trẻ

Trẻ nhỏ có nhiều chồi vị giác hơn người lớn, vậy cần đôi khi các món ăn mà bạn thấy không quá cay hoặc mặn lại có thể rất cay và mặn với con bạn. Ta cũng có khả năng diễn giải Lý do tại sao bé ghét những loại thực phẩm đắng như khổ qua (mướp đắng) hay gừng bằng Tác nhân tương tự.

Thay vào đó, bạn hãy ưa chuộng khi trẻ nói với bạn rằng trẻ không thích một loại thực phẩm nào đó. Ngoài ra, hãy nêm nếm ít các loại gia vị đậm khi bạn nấu ăn cho trẻ em.

Từ bỏ quá sớm khi cho trẻ ăn thử món mới

Bạn đừng cho rằng nếu một đứa trẻ từ chối thức ăn một lần thì chúng sẽ không bao giờ thích món ấy lần nữa. Để bé con có khả năng chấp nhận ăn một món mới nào đó, bé có khả năng buộc phải ăn món đó đến 20 lần. Vậy cần đừng bỏ cuộc dễ dàng hoặc loại bỏ luôn những loại thực phẩm này ra khỏi chế độ ăn uống của trẻ ngay lần thất bại sơ khai.

Thay vào đó, bạn hãy nấu các món này nhiều hơn và cho phép bé được chơi đùa cùng các món này ví dụ như chạm vào thức ăn, đặt thức ăn vào trong miệng và nhổ nó ra. Theo mức độ thì cuối cùng con bạn sẽ chấp nhận món ăn này mà thôi.

Cho trẻ ăn những món ăn vặt không thích hợp


Phụ huynh không cần cho trẻ ăn các đồ ăn vặt chứa nhiều đường và chứa chất béo nghiêm trọng cho sức đề kháng của con. (Ảnh minh họa)



Các món ăn vặt mà bé ăn cần chứa những chất bổ thiết yếu cho sự tăng trưởng và phát triển đúng đắn của bé. Tuy thế việc cho bé ăn bánh và kẹo thường xuyên sẽ khiến trẻ quen ăn các loại thực phẩm có nhiều chất béo và giàu calo.

Thay vào đó, bạn hãy lên thực đơn ăn vặt giúp cân bằng dưỡng chất. Hãy cho bé ăn trái cây, rau, protein (chất đạm), ngũ cốc nguyên hạt hoặc các sản phẩm từ sữa.

Xem thêm: Cốm tốt nhất dành cho trẻ biếng ăn: http://bottamnhanhung.vn/top-5-loai-com-tot-nhat-danh-cho-tre-bieng-an

Sử dung thức ăn như một phần thưởng

Các bậc phụ huynh thường dùng cách này và thưởng cho bé các thức ăn chứa nhiều chất béo và có đường, giả sử như bánh kẹo hay nước ngọt. Thoạt nhìn đây có thể là một bí quyết dễ dàng và có ích, nhưng về lâu dài nó sẽ hình thành thói quen ăn uống không an toàn cho trẻ. Bên cạnh đó, việc sử dụng đồ ngọt như một phần thưởng sẽ khiến cho bé cho rằng đồ ngọt là một món ăn vô cùng hấp dẫn và những loại thực phẩm chung thủy khác thì không hấp dẫn chút nào.

Thay vào đó, hãy thưởng cho bé khi làm tốt việc gì đó bằng các món quà không bắt buộc là thức ăn, giả sử như một chuyến đi tới công viên, được tắm bồn tắm đầy bọt bong bóng hoặc được kéo dài giai đoạn chơi trong ngày.

Không điều tiết được lượng đường


Không chủ động lượng đường trong thức ăn của bé có khả năng khiến bé dễ có thể mắc bệnh béo phì, tiểu đường. (Ảnh minh họa)

Bạn nên cho trẻ uống tối đa 120 ml nước trái cây nguyên chất hàng ngày. Nếu bé uống nhiều hơn liều lượng ấy, lượng đường mà trẻ nạp vào cơ thể sẽ tăng lên và khiến cho bé không còn đói và muốn ăn những bữa ăn chính nữa.

Thay vào đó, bạn hãy cho trẻ uống nước hoặc pha loãng nước trái cây bằng cách trộn một nửa lượng nước với môt nửa lượng nước trái cây thay vì cho bé uống nước quả nguyên chất.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh16:37

Phát hiện bệnh nhờ theo dõi phân của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Filled under:

Rất nhiều trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh nguy hiểm do mẹ không có thói quen theo dõi phân của bé. Những bác sĩ khuyến cáo, mỗi gia đình có con nhỏ nên tạo thói quen theo dõi phân để dễ dàng phát hiện những triệu chứng bệnh bất thường của bé.

Việc theo dõi phân của trẻ thường xuyên có khả năng giúp mẹ sớm phát hiện các vấn đề bất thường của con, nhất là những bệnh lý về đường tiêu hóa.

Phân của trẻ sơ sinh như thế nào là tốt?

Trẻ sơ sinh khi mới chào đời trong khoảng 1 – 2 ngày đầu sẽ thải ra một loại phân có màu đen hoặc màu xanh lá cây, đặc trưng kết dính. Đây được gọi là phân su. Phân su bao gồm các chất dịch nhầy, dịch màng ối và các chất em trẻ đã hấp thu trong thời gian còn nằm trong bụng mẹ. Trẻ sơ sinh thải ra phân su chứng tỏ hệ tiêu hóa của trẻ đang hoạt động tốt.


Phân của trẻ sơ sinh sẽ phụ thuộc vào các gì mà bé hấp thụ (Nguồn: Internet)



Sau khi thải ra hết phân su, bé sẽ thải ra phân bình thường. Phân của trẻ sơ sinh phụ thuộc vào những gì mà bé hấp thụ. Ở giai đoạn này, trẻ thường được bú sữa mẹ hoặc sữa công thức. Bởi vậy mẹ sẽ nhận diện đặc điểm phân của trẻ sơ sinh đối với 2 loại sữa này như sau:

1. Phân của trẻ sơ sinh khi bú mẹ

Những giọt sữa mẹ đầu tiên mà bé bú được gọi là sữa non. Sữa non rất giàu chất dinh dưỡng, rất tốt cho đường ruột của trẻ, có tác dụng nhuận tràng, giúp đẩy phân su ra khỏi cơ thể trẻ. Sau khoảng 3 ngày bú sữa, phân của trẻ sẽ dần thay đổi. Cụ thể là:
  • Phân có màu sáng hơn, chuyển từ màu xanh nâu thanh lịch màu vàng tươi.
  • Phân có kết cấu lỏng. Một số trẻ có thể thải ra phân khá sần hoặc vón cục.
Trong những tuần đầu tiên, bé sẽ đại tiện nhiều lần trong ngày, trung bình khoảng 4 – 6 lần/ngày. Bé có thể đại tiện ngay sau khi bú mẹ hoặc trong khi đang bú mẹ. Tuy thế, tần suất đi cầu của trẻ sẽ giảm dần sau 1 – 2 tuần khi hệ tiêu hóa của trẻ đã quen với các hoạt động và nguồn sữa mẹ.

2. Phân của trẻ sơ sinh khi bú sữa công thức

Phân của trẻ sơ sinh bú sữa công thức sẽ khác với trẻ bú sữa mẹ. Khi trẻ bú sữa công thức, phân của trẻ sẽ có những đặc điểm như:
  • Kết cấu phân lớn do sữa công thức khó tiêu hóa hơn sữa mẹ.
  • Phân có màu vàng nâu hoặc nhạt, không sáng như phân của bé bú sữa mẹ.
  • Phân có mùi hơi nồng.
  • Bé dễ bị táo bón.

Sự thay đổi phân của trẻ như thế nào là bình thường?

Trong quá trình phát triển, phân của trẻ có khả năng có những thay đổi. Cha mẹ nên nhận biết đâu là những biểu hiện bình thường, đâu là các dấu hiệu báo hiệu bất thường để chăm sóc và xử lý nhanh chóng.

1. Phân thay đổi khi trẻ chuyển từ bú mẹ sang bú sữa công thức


Bé bú sữa mẹ chuyển sang sữa công thức thì phân cũng sẽ có sự thay đổi (Nguồn: Internet)



Khi mẹ không đủ sữa cho con bú, mẹ bị hết sữa hay vì lý do khác buộc phải cho bé bú thêm sữa công thức thì phân của bé ít nhiều cũng có sự thay đổi, chẳng hạn như bé sẽ bị táo bón. Do vậy trong thời gian đầu chuyển đổi hoặc cho trẻ dặm thêm sữa công thức mẹ nên thay đổi một cách từ từ để hệ tiêu hóa bé có thời gian thích nghi với thức ăn mới.

Tìm hiểu thêm: Cách phân biệt trẻ mọc răng bị sốt và đi ngoài

2. Phân thay đổi khi trẻ mở màn ăn dặm

Trẻ bắt đầu ăn dặm là cột mốc tương đối quan trọng vì đây là giai đoạn trẻ bắt đầu tập làm quen với một loại thức ăn khác hoàn toàn với sữa mẹ. Đặc biệt, nếu trẻ ăn thức ăn dạng đặc, phân của bé sẽ thay đổi rõ ràng. Phân sẽ đặc hơn, có mùi và sẫm màu hơn.

3. Phân thay đổi khi có triệu chứng bệnh lý

Ngoài các thay đổi màu sắc và mùi do quá trình phát triển của trẻ, thì việc theo dõi “sản phẩm” của con cũng có thể giúp mẹ nhận diện được sớm nhiều bệnh lý. Chẳng hạn như:


Dựa vào màu sắc phân mẹ có thể nhận biết những vấn đề sức khỏe của bé (Nguồn: Internet)


  • Phân có chất nhầy: có thể trẻ đang bị rối loạn tiêu hóa do nuốt buộc phải đờm khi bị viêm mũi họng hoặc có thể bé bị kiết lỵ. Hoặc cá biệt hơn là bé có khả năng bị rối loạn màng nhầy ở ruột.
  • Phân có mủ, có khả năng kèm theo mùi thối khẳn: Nếu phân trẻ vừa lẫn chút nhầy, vừa có chút mủ lại có thêm mùi thối khẳn thì có thể trẻ đang bị viêm đường ruột hoặc một bộ phận nào đó của cơ quan tiêu hóa.
  • Phân có máu: Nếu phân của trẻ có chút máu tươi, trẻ có thể bị chảy máu do nhiều nguồn gốc như rách hậu môn, polyp trực tràng, lồng ruột hoặc bé bị chảy máu một chỗ nào đó ở đường tiêu hóa. Nếu thấy máu có màu đen thì có khả năng trẻ đã bị chảy máu từ trước.
  • Phân có màu xanh: Phân xanh không hẳn đáng lo ngại vì hiện tượng phân xanh chỉ thể hiện việc chất thải di chuyển quá nhanh trong đường ruột khiến phân không có đủ thời gian để chuyển thành màu bình thường. Mặt khác, việc oxy hóa của phân trong không khí khi ra ngoài đường ruột cũng có khả năng làm phân của bé có màu xanh.
  • Phân có màu xám: Phân màu xám thường gặp ở trẻ được nuôi bằng sữa bò bởi trẻ không tiêu hóa được hết những chất có trong sữa. Trong hiện tượng này, mẹ nên theo dõi sự chuyển biến của phân bé, nếu ngày càng xám và rắn lại như đất sét thì mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ vì có thể trẻ không hợp với loại sữa đang dùng.
  • Phân sống: Phân sống thường lổn nhổn sữa hoặc thức ăn chưa tiêu hóa, có pha chút màu trắng nhạt hoặc màu trắng. Nguồn gốc gây phân sống có hầu hết và cha mẹ nên ưa chuộng tới hiện tượng này bởi một số tình trạng bé đi ngoài phân sống có thể do chức năng gan kém hoặc do tắc ống dẫn mật.
  • Phân có màu sắc theo thức ăn: Có không ít trường hợp bé ăn nhiều cà rốt đi ngoài sẽ thấy phân màu vàng sẫm hoặc bé ăn rau có nhiều chất sắt thì phân sẽ có màu đen,... Và đa số những tình trạng này là bình thường.
Nhìn chung, việc theo dõi màu sắc phân của trẻ, nhất là trẻ sơ sinh là điều thiết yếu bởi nó sẽ giúp mẹ nhận biết được sớm nhất những vấn đề về sức khỏe của con, đặc trưng là hệ tiêu hóa. Trong tình trạng thấy phân của bé không bình thường mẹ hãy đưa trẻ đi bác sĩ để được thăm khám cụ thể.

>>Có thể bạn quan tâm:

Posted By Hà Oanh16:10

Tá hỏa vì trẻ 11 tuổi đã mắc gan nhiễm mỡ

Filled under:

Bệnh gan nhiễm mỡ ngỡ chỉ có mặt ở người lớn nhưng hiện nay, ngay cả trẻ nhỏ cũng đã có nhiều hiện tượng mắc phải. Thậm chí, số ca bị bệnh có dấu hiệu ngày càng tăng, lên đến mức báo động. Tuy vậy, nhiều bậc cha mẹ lại không hề biết bệnh gan nhiễm mỡ ở trẻ em nguy hiểm như thế nào, triệu chứng, cách chữa trị sao cho hiệu quả

Trường hợp bé trai 11 tuổi bị gan nhiễm mỡ

Dưới đây là câu chuyện của một bà mẹ có con bị gan nhiễm mỡ. Qua câu chuyện này, phần lớn phụ huynh phải giật mình và tìm cách phòng giảm thiểu để bảo vệ sức đề kháng cho toàn bộ người trong gia đình mình.

Chị L.T.N (Xa La, Hà Đông, Hà Nội) có một trẻ trai 11 tuổi nhưng cân nghiêm trọng đã lên tới 55kg. Suốt quãng mức độ nuôi con, thấy con khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường, vui chơi, ăn uống tốt cần chị không nghĩ ngợi gì. Cứ ngỡ con mình ăn uống được là tốt cần chị để con rất vô tư trong những bữa ăn hằng ngày.


Gan nhiễm mỡ ở trẻ em khó nhận ra



Một đợt nhà trường tổ chức khám sức đề kháng thường kỳ cho những trẻ, nhận được thông báo gửi về, chị mới tá hỏa vì con mình bị bệnh gan nhiễm mỡ. Nguyên nhân chính gây cần bệnh là do béo phì. Lúc ấy chị thực sự sốc vì con mới ít tuổi mà đã mắc bệnh này, cứ tưởng trước giờ chỉ người lớn mới bị gan nhiễm mỡ.

Khi thảo luận trực tiếp với những chuyên gia chuyên khoa, chị mới vỡ lẽ ra rằng hiện tượng trẻ nhỏ mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng phổ biến. Nếu không phát hiện, điều trị kịp thời sẽ gây đe dọa lớn đến sự gia tăng sau này của bé. Đặc thù ở trẻ em, những biểu hiện không rõ rệt cần rất khó nhìn thấy. Đa phần các bậc phụ huynh nhận biết bệnh của con em mình sau khi cho trẻ đi xét nghiệm sức khỏe.

Gan nhiễm mỡ ở trẻ nhỏ rất có hại

Nhiều bậc cha mẹ vẫn chưa có kiến thức về bệnh tình, mơ hồ không biết bệnh gan nhiễm mỡ ở trẻ nhỏ có tổn hại hay không. Theo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa Trần Anh Ngọc (Bệnh viện Nhi đồng 1) cho biết: “Gan nhiễm mỡ là căn bệnh phổ biến không chỉ ở người lớn mà còn xuất hiện nhiều ở trẻ nhỏ. Bệnh sẽ phát triển gây cần các hậu quả nghiêm trọng nếu không được nhìn thấy và điều trị nhanh chóng. Một số tình trạng gan nhiễm mỡ ở bé gây nên các biến tướng như xơ gan, ung thư gan, hậu quả đến sức đề kháng, cuộc sống sau này của trẻ.”


Bệnh gan nhiễm mỡ đe dọa đến sự phát triển của trẻ sau này


>>Xem thêm: 

Gan nhiễm mỡ ở trẻ được chuẩn đoán là căn bệnh tổn hại mà những phụ huynh nên lưu tâm. Điều này dễ hiểu vì gan là một trong những cơ quan chức năng quan trọng nhất của thân thể. Những tổn thương trên gan sẽ gây hậu quả đến hoạt động của những cơ quan khác. Chính Bởi vậy, bố mẹ nên buộc phải tự chủ trong việc phòng hạn chế bệnh gan nhiễm mỡ cho bé. Và đặc biệt là không được sơ ý khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh.

Bạn có biết: Cách điều trị mẩn ngứa khắp người ở trẻ

Dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mỡ ở trẻ

Gan nhiễm mỡ ở trẻ không phải là không có triệu chứng nhận biết. Mà do những triệu chứng này không rõ ràng nên bố mẹ rất khó để nhìn thấy ra.

Ở thời kì nhẹ, trẻ có khả năng bị đau sườn phải. Tuy nhiên chúng sẽ dễ dàng quên đi khi đang vui chơi. Và tất nhiên nếu chúng không nói thì bố mẹ sẽ không thể nào biết được.

Ở giai đoạn nghiêm trọng hơn, bé sẽ có các biểu hiện như: stress, bỏ ăn, sưng bụng, buồn nôn trớ, khó tăng cân,… đặc biệt khi trẻ đau bụng liên tục thì có khả năng là do gan bị phù. Bên cạnh đó, còn các biểu hiện khác như là:

- Ở mỗi độ tuổi, trẻ sẽ có cân nặng và chiều cao tiêu chuẩn. Nếu như cân nặng của trẻ vượt quá 20% so với thời gian chuẩn thì tài năng bé nhà bạn đang bị béo là rất cao. Như những bậc cha mẹ đã biết, béo phì làm cho lượng mỡ tích tụ ở phần gan, gây nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ cao.

- Trẻ có các dấu hiệu thất thường về đường tiêu hóa như: đầy tương đối, khó tiêu,...

Theo các chuyên gia chuyên khoa chuyên gia chuyên khoa cho biết, bệnh gan nhiễm mỡ ở trẻ có thể kiểm soát được nếu như phát hiện và có phương pháp điều trị kịp thời. Bởi thế những bậc bố mẹ nếu thấy bé có triệu chứng trên thì hãy nhanh chóng chó bé đi khám, kiểm tra sức đề kháng.


Phòng hạn chế gan nhiễm mỡ cho trẻ bằng chế độ chất bổ hợp lý


Làm cách nào để giúp con giảm thiểu khỏi bệnh gan nhiễm mỡ?

hiện tại, chưa có loại thuốc nào đặc trị riêng cho bệnh gan nhiễm mỡ. Nếu nguồn gốc gây bệnh là do bệnh lý như béo phì, mỡ máu,… thì cần phải chữa khỏi những căn bệnh ấy trước. Chữa trị gan nhiễm mỡ nên nhiều thời kì, công sức và cả tiền bạc. Vậy vì đâu bố mẹ không lưu ý đến những phòng hạn chế căn bệnh, thay vì tới lúc con bị rồi mới chạy chữa?

Những bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo rằng, cách ngăn ngừa gan nhiễm mỡ hữu hiệu nhất cho trẻ đó là có một chế độ dinh dưỡng kỹ thuật, thích hợp. Tránh cho trẻ ăn những đồ cay nóng, đồ chứa nhiều dầu mỡ, thức ăn nhanh. Và đặc trưng hơn là cha mẹ buộc phải cho bé ăn nhiều rau xanh, củ quả. Các dưỡng chất nạp vào thân thể bắt buộc cân đối, không được quá dư thừa sẽ dẫn đến béo phì.

Cho trẻ mỗi ngày tập thể dục thể thao với những bài tập nhẹ nhàng. Muốn biết được trẻ có mắc bệnh hay không thì bố mẹ lưu ý cho con đi khám sức đề kháng thường xuyên. Kiểm tra máu, men gan AST, ALT, siêu âm, có khả năng nhận ra ra bệnh về gan và giai đoạn tổn hại gan.


Cung cấp rau củ quả cho các bữa ăn của trẻ

Tình trạng trẻ bị gan nhiễm mỡ do béo phì thì phụ huynh nên bắt buộc đặc thù ưa chuộng đến thực đơn dưỡng chất của bé. Tránh ăn phủ tạng, thịt đỏ, lòng đỏ trứng, da động vật,... Đồng thời bổ xung ăn cá, thực phẩm có tác dụng tránh mỡ máu như tỏi ta, giá đỗ, cà chua,...

Gan nhiễm mỡ ở trẻ nhỏ là một căn bệnh không thể coi thường. Ngay từ bây giờ, cha mẹ cần bắt buộc nắm được những thông tin trên để chủ động phòng ngừa bệnh cho bé.

>>Có thể bạn quan tâm: 

Posted By Hà Oanh15:53